logo
Powered by Jitbit Forum free trial version.
Trang Chủ Diễn Đàn Chủ Đề Mới Bài Mới Tìm Kiếm Trợ Giúp  

Quỷ Cốc Toán Mệnh



Làm thẻ hội viên | Quên Mật Mã
Lịch
Trình
Quỷ Cốc Toán Mệnh
Bát Tự
Tử Vi
Bói Dịch
Quan Đế Linh Xâm
Thông Tin
Làm thẻ hội viên
Trang Nhà
Diễn đàn
Nội Quy
Messages in this topic - RSS

Trang Nhà » Nghiên Cứu Bát Tự Hà Lạc » BÁT TỰ HÀ LẠC - TG HỌC NĂNG

Nơi nghiên cứu và thảo luận về Bát Tự Hà Lạc.
11/25/2015 9:38:57 AM

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431
LỜI NÓI ĐẦU

Một ông bạn già bảo Soạn giả: “Suốt đời anh chỉ lấy số giúp cho người, Tài Tử thế. Nếu không thích hành nghề, th́ sao chẳng viết sách đi? Môn Bát Tự Hà Lạc của anh có cỡ lắm rồi đấy!”.
Chỗ thân nên mới trả lời văng mạng rằng: “Cớ ǵ! mắc cỡ th́ có. Nào đă biết ǵ đâu mà viết với lách. Học số tuy gần 40 năm thật, nhưng lẽ quyển Kinh Dịch chưa sờn, chứ đừng có nói là đă hân hạnh dứt lấy một lần, th́ phỏng viết sách ra có ích ǵ, hay chỉ làm thiệt lấy đôi ba ram giấy và ít kư mực của học sinh nghèo”.
Ông bạn nghe xong mỉm cười rồi lại nghiêm nét mặt mà nói: “Chà! mặc cảm vừa vừa thôi chứ. Tuổi anh nay mai sắp sang tuần “Thất - Thập cổ lai hi rồi”, liệu ít nữa, xuống ḷng đất mẹ có mang được tí sở học đi không? Mà nếu thiên hạ ai cũng nghĩ (Tếu) như anh cả, th́ rồi môn BÁT - TỰ HÀ - LẠC đến mất giống ư?
Tuy câu chuyện đối đáp tầm phào như trên, mà rồi cũng làm cho đầu óc phải suy nghĩ. Soạn giả tự nhủ: “Ừ, anh bạn nói cũng có lư. Như người học Phật có ứng khẩu được KỆ mới là hiểu KINH. Học sách Thánh Hiền mà không làm được bài vở ǵ th́ sao gọi là triết học. Suốt đời chưa tŕnh làng được một chữ nghĩa nào về LƯ - SỐ, th́ rồi đây, khi sang thế giới bên kia lỡ gặp các Cụ: Chu Công, Khổng Tử, Trần Đoàn, Thiệu Khang Tiết v.v... liệu các Cụ có để yên cho hay không, hay Khai trừ thẳng cánh”. Nghĩ vậy mà thấy rờn rợn góc gáy, nên rấp tâm phải viết một cái ǵ về LƯ SỐ, mặc dù vẫn viết rằng: Viết ra th́ cũng tội, mà không viết ra cũng tội.
Nhưng viết ǵ đây?
Tử Vi, KINH DỊCH, MAI HOA, KỲ MÔN, GIÁP ĐỘN v.v... đều đă đủ mặt ở thị trường sách vở từ trong Thư Cục, Ấn Quán cho ra đến vỉa hè. Nh́n kỹ th́ thấy thiếu BÁT TỰ và HÀ LẠC LƯ SỐ là 2 môn thịnh hành nhất ở các phố Hoa Kiều.
Gần đây, t́nh cờ gặp một thầy Tướng Số, người Hoa Kiều là chỗ quen nên ông ta hỏi: “Học giả Việt Nam các ông chỉ có lấy Tử Vi thôi, không ai biết lấy BÁT TỰ và HÀ LẠC à?”.
Chẳng lẽ soạn giả lại vô lễ nổi xung lên, nhưng liền nhớ ngay câu chuyện đối thoại xưa giữa YẾT KIÊU đục thuyền và giặc Nguyên, nên cũng bắt chước lối hiên ngang mà trả lời rằng: “Học giả Việt chúng tôi, trừ hạng tôi ra, lấy đấu mà đong không hết, c̣n ai cũng uyên thâm đủ các môn NHÂM, CẦM, ĐỘN, TOÁN cả, con cháu Trạng Tŕnh mà không tinh thông sao được. Ông đă đọc Sử nước tôi chưa? Sở dĩ chúng tôi chỉ lấy Tử Vi thôi, là v́ khoa ấy dễ phổ biến hơn hết”.
Ông thầy Tàu ngồi im. Lời của ông tuy không có ǵ là kỵ thị Văn Hóa, nhưng vô t́nh đă lùa ngọn roi châm chọc vào bên cạnh sườn Học Vấn gầy c̣m của Soạn giả, khiến hắn này phải có một quyết định như câu Dịch, hào 3 quẻ quải: “Quyết quyết độc hành”.
Thôi, đúng cũng là số đến ngày phải cầm bút rồi, mặc dầu đây không phải là “Bút Mộng Hoa” của Thi Hào Lư Bạch chi cả mà chỉ là bút rỉ mực cợn, đi đôi với bộ mắt đă mờ, gân tay đă mỏi, nhưng cũng cứ cố gắng và mạo muội vạch ra cuốn BÁT TỰ - HÀ LẠC này.
Xin tâm thành gọi là chút quà mọn tinh thần, Kính gửi đến gần xa quư vị xem chơi.
TẠI SÀI G̉N NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG NĂM QUƯ SỬU 1973

SOẠN GIẢ CẨN CHÍ
HỌC NĂNG


Nếu tựa quy định người viết sách phải tŕnh bày ư hướng của ḿnh (Tự: TRẦN THUẬT trước tác giả chi ư thú tác giả. TỪ HẢI) th́ nơi đây xin kính cẩn trần thuật như sau:
Ư kiến sách này có 2 mục tiêu:
Một là: Muốn phổ thông hóa một môn học về ĐỊNH MỆNH thuộc tŕnh độ cao hơn Phổ Thông, nguyên nhân: LƯ SỐ HÀ LẠC từ xưa, vẫn được coi như là một môn học khó hiểu, chỉ có một số ít Học giả khá chữ Nho và chuyên Kinh Dịch mới nghiên cứu thôi. Một bác Đại Hiền đời Tống, Trần Y Xuyên Tiên Sinh đă phải nói là: HÀ - LẠC... cực chính đại, không nên khinh thường, đem truyền thụ cho bọn Phàm Tục (Cực chính đại, bất khinh di truyền thụ dung tục chi bối – HÀ LẠC LƯ SỐ quyển 1) ở một thời đại Nho Học cực thịnh, cách đây gần 10 thế kỷ, mà c̣n có câu ấy.
Huống chi ngày nay ở nước ta, NHO HỌC đă hồ tàn, mà người nghiên cứu KINH - DỊCH cũng hiếm có, nếu cứ t́nh trạng này mà lơi là, ngại khó th́ ắt hẳn không chóng th́ chầy môn HÀ LẠC sẽ mai một dần dần rồi biến mất, trên quê hương của những Đại gia Lư Số, Trạng Tŕnh, Trạng Bùng v.v...
Chỉ v́ nghĩ vậy mà điếc không sợ súng, sách này dám cả gan đem môn Hà Lạc ra phiên dịch, phần dịch, phần biên soạn thành chữ Quốc Ngũ để mong đem phổ biến rộng răi giữa đám bà con anh em những kiến thức mà xưa nay người ta vẫn coi như vừa Huyền Bí vừa Bí Truyền. Sách này c̣n dám kỳ vọng rằng: Bất cứ độc giả nào, không cần biết một nét chữ Nho, chỉ cần xem kỹ, cũng có thể tự lấy và tự giải đoán được quẻ Hà Lạc. Nếu đạt được kết quả ấy th́ HÀ LẠC mới có đất đứng ở giữa khoảng vườn rộng răi, cây HÀ LẠC mới nh́n thấy bóng mặt trời, mới nở ngành xanh ngọn, phát huy được tinh hoa, để mang lại một cảm hứng mới cho các bạn hiếu đọc, và để ganh đua với nhiều Môn học khác như Tử Vi, Chiêm Tinh Học, Bốc Dịch... Kể ra cũng là một việc làm khá mạo muội như muốn san quả đồi thành đường phẳng để đi, nhưng sở dĩ soạn giả dám làm là v́ có một sức tin tưởng mănh liệt vào Trí tuệ thông minh và đức kiên nhẫn của bà con anh em người Việt chúng ta, bao giờ cũng t́m hiểu đến nơi và không bao giờ chịu lùi bước trước một vấn đề khó hiểu nào.
Tất có bản sẽ hỏi: Làm một việc có ư cầu kỳ như trên, để nhằm mục đích ǵ? Phải chăng cũng chỉ là tiếp tay vào với Cao Trào Tướng số đương lên, là a dua với (bọn thầy Mù gỡ gạo) như lời cụ Phan Bội Châu đă nói, là đổi món thuốc độc để mê hoặc ḷng người, làm giảm mất CHÍ - TỰ - CƯỜNG và ĐỨC - TỰ - TIN của DÂN TỘC mà cuộc H̉A B̀NH sắp thực hiện cần phải tái Vơ Trang tinh thần trong công cuộc cấp bách tranh thủ TỰ DO và điều kiện SINH TỒN hợp lư với Thế giới? Câu hỏi trên này quả có nghiêm nghị và xác đáng. Ấy cũng chỉ v́ soạn giả không muốn chia xẻ cái quan niệm của Cao Trào Tuyệt Đối Tin Tưởng Định Mệnh mà sách này mong đạt một mục tiêu thứ 2 là: Tương đối hóa niềm tin Định Mệnh. Thật vậy, dù người ta sinh ra có Số, nhưng không sao có thể nghĩ được rằng: Ở giữa thời đại nguyên tử ngày nay, con người vẫn c̣n, như muôn ngàn kiếp xưa, chỉ là cái công cụ của Tạo hóa như cái máy ḷ so, để thi hành mệnh lệnh của Trời theo câu thường nói: “Một miếng ăn, một hớp uống cũng đều do Tiền định (Nhất ẩm nhất trác giai do Tiền định), hoặc: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Kiều).
Hăy xem lại Kinh Dịch. Ta sẽ thấy ở đây một niềm sảng khoái vô biên, con người đă được công nhận là 1 đấng trong 3 Ngôi (Tam Tài: THIÊN, ĐỊA, NHÂN) có đường lối tự quyết cũng như TRỜI ĐẤT để điều hành VŨ TRỤ (hữu thiên đạo yên hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên, Hê Tử Hạ) Há rằng người lại thất thế, trụt xuống ngang hàng với muôn loài để cũng bị động như chúng, làm nô lệ cho trời đất, vốn là 2 Đồng Liêu thượng đỉnh vẫn ngồi bên cạnh ḿnh, trong TAM ĐẦU CHẾ nói trên? Có lẽ, cái chức vụ tối cao kia đă bị người ta quên lăng lâu ngày, nên một nhóm TỐNG NHO LƯ HỌC bèn quát khởi lên để nhắc lại quyền ấy, trong nhóm tiêu biểu nhất có Thiệu Khang Tiết Tiên Sinh đă nêu cao ngọn cờ TỔ SƯ TRẦN ĐOÀN để dâng cho loài người chữ lư số làm liều thuốc cấp thời chữa bệnh cứng rắn và ngoan cố của SỐ MỆNH.
Vinh dự nước Việt Nam ta cũng có đóng góp nhiều danh nhân vào ngành Lư Học này. Tay cự phách nhất là cụ Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm mà người Trung Hoa xưa phải tôn trọng với câu (An Nam Lư Học hữu Trinh Tuyền).
- Trên vừa nói: Lư chữa bệnh được cho Số, tại sao? Số và Lư là cái ǵ? Ta thử xét xem. Ai cũng biết, Số do trời sinh ra bằng Năm, tháng, ngày giờ sanh bất di bất dịch. Số là vật bất biến. Trời nắm quyền số (Nam Tảo Bắc Đẩu). Vậy c̣n Lư về ai, nếu không về tay người, Lư duy ở tư tưởng người mà có, tất cả cái ǵ không do trời là Lư sáng tạo ra hết, cả về vật chất lẫn tinh thần. Lư biến Dịch vô cùng qua thời gian, không gian và qua cả tư tưởng thời đại của con người nữa; nền Văn minh của nhân loại từ thuở Hồng Hoang cho đến thời kỳ toàn thể thành Phật thành Tiên sau này đều cũng bởi người làm ra cả. Vậy th́ Lư c̣n nặng đồng cân hơn. Số mà không Lư th́ thật là vô lư. Nếu chỉ có Số không thôi, th́ chim muông vạn vật đều có số cả, v́ đều có ngày tháng sanh đẻ, đâu kém chi người. Sở dĩ chúng không có óc sáng tạo như người nên chỉ có Số mà không có Lư, Thiệu Ung tiên sinh rất coi trọng Lư nên nói rằng: (Phải sáng cái Lư trước khi khởi cái Số. V́ lấy Số mà không suy Lư là không được vậy. Khởi Số tất tiên minh Lư. Cái Số bất suy Lư thị bất đắc giả. MAI HOA DỊCH SỐ). Sách Tử B́nh cũng ca tụng (Đo được cái Lư th́ có thể biết được đến chỗ tuyệt diệu của điều U Vi, Độ Lư khả tri U Vi chi diệu).
Phạm Vi loại sách thực hành như quyển Hà Lạc này không cho phép bàn rộng về thuyết của chữ Lư (Xin xem lời phiếm bàn ở trang...) nên có điều nhận xét sau đây: Nếu người cũng tin Lư như tin Số th́ có thể đi tới kết quả là: Người có thể cải tạo được phần nào Số ḿnh. Nói một cách khác, người sẽ tự tạo lấy cho ḿnh, một Định mệnh mới, nó tuy không thỏa măn được hoàn toàn ư ḿnh, nhưng cũng không quá lệ thuộc vào ư trời nữa.
Đó thiết tưởng là cái thâm ư trong tinh thần Lư Số HÀ LẠC như soạn giả đă t́m hiểu. Để xác định, xin tạm dùng phương tŕnh thức sau đây:
SỐ + LƯ = ĐỊNH MỆNH
SỐ có thể vi với HẰNG SỐ (như số Pi  không thay đổi).
LƯ có thể vi với BIẾN SỐ (thay đổi).
ĐỊNH MỆNH tức như HÀM SỐ vậy.
Đặt phương tŕnh thức như trên là có ư muốn tŕnh bày rằng: Người có Lư phải chịu lấy trách nhiệm của ḿnh chứ đừng cái ǵ cũng nhất nhất đổ tại trời. Nhân loại hung suy, dân tộc tồn vong, cá nhân thành bại, đều do tự ḿnh một phần lớn, há rằng cứ oán trời, kêu đất trách người khác hay sao.

THƯỜNG NHẬN THẤY RẰNG:

Các bậc Học giả xưa, rất dè dặt việc viết sách. Sách nào thật hữu ích cho đời th́ mới viết. Đối với hiện tinh hiện trạng của dân ta, cứ thực mà nói, th́ c̣n nghèo nàn về Kinh tế, nhá nhem về Khoa học và dở dang về Đạo đức, nếu loại sách Số Tướng c̣n hữu ích chăng nữa, th́ cũng chỉ hữu ích vào hàng thứ sau cùng, sau những loại sách cần thiết để nâng cao mức sống cho dân lành, mở mang tri thức cho người thất học, và làm lại tinh thần cho bọn sa ngă vong thân. Đó là một lẽ khiến sách Hà Lạc này dùng dằng măi mới dám ra đời.

LẠI VỐN NGHĨ RẰNG:

Trong hàng ngũ Văn hóa cổ truyền, tuy thưa như sao buổi sáng, như lá mùa thu, nhưng vẫn hăy c̣n một số các Cụ Túc Nho bậc trưởng Thượng, đă đâu đến vai ḿnh được biên soạn loại sách này. Đó là một lẽ thứ hai bắt buộc phải chờ, chờ măi, nay mới dám cho ra.
Là quyển đầu tiên về Hà Lạc, LƯ SỐ bằng QUỐC VĂN, Tất nhiên sách này thiếu hẳn kinh nghiệm đáng lẽ được rút ra, nếu có, ở các sách đă dịch rồi của các bậc Tiền Bối hay quư vị đàn anh.
Đọc lời Đề bạt trong cuốn Chu Dịch của Cụ Phan, mà huống hổ thẹn cho cái tài sơ học thiển của ḿnh. Đến như Cụ mà c̣n phải nói: (Ư kiến có chốn lầm lỗi, chữ nghĩa có nhiều chốn quê mùa, xin nhờ các bậc cao minh bổ dạy cho...) Huống chi tầm thường Vu Lịch là kẻ soạn sách này, những mong quư vị học giả bốn phương lượng t́nh chỉ bảo.
Tại Sài G̣n ngày Tiết Vu Lan rằm Tháng 7 năm Quư Sửu
Soạn giả Cần Tự
Học Năng
0 Liên kết
11/25/2015 9:41:41 AM

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431
CHƯƠNG A


BÁT TỰ: BÀO THAI CỦA SỐ HÀ LẠC

Muốn lấy số Hà Lạc, trước hết phải đổi năm tháng ngày giờ sanh ra Bát tự đă, rồi đổi Bát Tự ra số Âm số Dương của Hà Đồ Lạc Thư, sau rồi lại đổi số Âm Dương ra thành quẻ Dịch: Quẻ Dịch lại đổi thành quẻ Hà Lạc để t́m hiểu Mệnh Vận con người. Như vậy từ Bát Tự đến số Hà Lạc, đă có 3 lần chuyển h́nh. Có thể v́ quá tŕnh biến hóa này với quá tŕnh thay đổi h́nh dạng của trứng Ngài ra con Tằm, Tằm ra Nhộng và Nhộng ra Bướm.
Số Hà Lạc đă thoát thai từ Bát Tự cho nên nói rằng: Bát Tự là bào thai của Hà Lạc, hay nói ngược lại: Hà Lạac là Bát Tự đă chuyển h́nh. Bát Tự là cái cổng chung mà nhiều môn học phải đi qua trước khi phân ngành (như trên phàm lệ đă nói).

I. Bát tự là ǵ?

Theo đúng nghĩa, Bát Tự là 8 chữ, Tại sao gọi là 8 chữ? Thưa rằng: Dù lấy bằng phương pháp nào? số ai cũng phải có 4 yếu tố th́ mới lập thành được. Đó là:
Năm sanh tức tuổi
Tháng sanh
Ngày sanh
Giờ sanh.
Mỗi yếu tố ấy diễn ra bằng 1 Can và 1 Chi. Vậy 4 yếu tố diễn ra bằng 4 Can và 4 Chi, tổng cộng là 8 chữ hay bát tự vậy.
Ví dụ: Ông A năm nay 53 tuổi, sanh tháng 4, ngày 21, giờ Th́n, An ra bát tự là:
Năm Tân Dậu (Tân là Can, Dậu là Chi).
Tháng sanh Quư Tỵ (Quư là Can, Tỵ là Chi).
Ngày Tân Măo (Tân là Can, Măo là Chi).
Giờ Nhâm Th́n (Nhâm là Can, Th́n là Chi).
Vấn đề đặt ra ngay bây giờ là phải biết thế nào là Can, thế nào là Chi? mà nhà Lư Số thường gọi là Thiên Can và Địa Chi, có nghĩa là Can của Trời, Chi của Đất, hai thứ ấy phối hợp nhau mới sanh ra con người.
Đối với vị nào đă có chữ Nho, hay đă biết Tử vi, th́ Can Chi là chuyện dễ ợt. Nhưng vị nào mới bước chân du ngoạn lần đầu vào địa hạt Lư Số th́, dù thông minh đến đâu cũng nên chú ư ngay từ những bài đầu tiên, nhiên hậu mới theo dơi được môn Hà Lạc là môn học khá sâu xa mà các cụ nhà Nho xưa cũng không dám coi thường, v́ nhất nhất là môn này dựa vào Dịch Lư.

II. 10 Can và 12 Chi (thập Can và thập nhị Chi).

Trên Trời dưới đất chỉ có 10 Can và 12 Chi, phối hợp với nhau mà Vũ Trụ vận hành, thời gian, không gian, nhân gian biến chuyển vô cùng tận.
10 Can là:
- Đọc xuôi:
1. GIÁP (viết tắt là G) - thuộc Dương hành Mộc.
2. ẤT (viết tắt là Â) - thuộc Âm hành Mộc.
3. BÍNH (viết tắt là - thuộc Dương hành Hỏa.
4. ĐINH (viết tắt là Đ) - thuộc Âm hành Hỏa.
5. MẬU (viết tắt là M) - thuộc Dương hành Thổ.
6. KỶ (viết tắt là K) - thuộc Âm hành Thổ.
7. CANH (viết tắt là C) - thuộc Dương hành Kim.
8. TÂN (viết tắt là T) - thuộc Âm hành Kim.
9. NHÂM (viết tắt là N) - thuộc Dương hành Thủy.
10. QUƯ (viết tắt là Q) - thuộc Âm hành Thủy.
Tất cả 5 Can Âm và 5 Can Dương, đều thuộc vào Ngũ hành (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ) và chia đều nhau cứ 2 Can chung 1 Hành.
- Đọc ngược (cần biết đọc ngược để nhiều khi dùng đến tính cho lẹ).
Q. N. T. C. K. M. Đ. B. Â. G.

12 CHI là:

- Đọc xuôi:
1. Tư thuộc Dương hành Thủy
2. Sửu thuộc Âm hành Thổ
3. Dần thuộc Dương hành Mộc
4. Măo thuộc Âm hành Mộc.
5. Th́n thuộc Dương hành Thổ.
6. Tỵ thuộc Âm hành Hỏa.
7. Ngọ thuộc Dương hành Hỏa.
8. Mùi thuộc Âm hành Thổ.
9. Thân thuộc Dương hành Kim.
10. Dậu thuộc Âm hành Kim
11. Tuất thuộc Dương hành Thổ
12. Hợi thuộc Âm hành Thủy.
- Tổng cộng là 6 Chi Âm và 6 Chi Dương, đều thuộc vào Ngũ hành. Cứ mỗi Ngũ hành kiêm 2 chi, chỉ trừ hành Thổ kiêm 4 chi (Th́n, Tuất, Sửu, Mùi). Có thể thắc mắc v́ sao hành Thổ tham nhũng vậy? Riêng ḿnh chiếu 4 Chi, trong khi mọi hành khác, chỉ được 2 chi, rất dễ hiểu.
Chỉ làm con tính chia nhờ:

12 CHI 5 Hành
2 2 Chi

Mỗi hành 2 Chi c̣n dư 2 Chi, chia nữa th́ lẻ loi, mà để th́ các Hành nḥm ngó tranh giành nhau. Ông hành Thổ vốn người Trung ương, có quyền hơn, nên lấy 2 chi dư là danh chính ngôn thuận. V́ vậy ông Hành Thổ được quyền hưởng 4 chi, chứ chẳng phải là tham nhũng ǵ cả.
Đọc ngược:
Hợi, Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ.
Tỵ, Th́n, Măo, Dần, Sửu, Tư.

III. Một phương pháp để dễ nhớ Can Chi
Muốn dễ nhớ Can Chi, th́ phải thể hiện nó lên trên vật ǵ cụ thể. Những vật ấy là:
1. Bàn tay 10 Can.
2. Bàn tay 12 Chi.
3. Địa bàn 12 Cung (Vẫn dùng vào Tử Vi).
Bàn tay 10 Can Bàn tay 12 Chi

H́nh vẽ
0 Liên kết
11/25/2015 9:44:48 AM

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431

Lưu ư 2: Những số viết vào cạnh CAN – CHI đều là số thứ tự, không ăn nhằm ǵ vào với số Hà Lạc cả.

V. Cách an Bát tự:
Thuộc kỹ Can Chi rồi đếm xuôi, đếm ngược đều lầu thông, phân biệt Âm Dương Ngũ Hành rành rẽ, bây giờ đi vào việc An Bát Tự được. Trên đă nói, số có 4 yếu tố, vậy phải đi lần lượt 4 giai đoạn:
1. An Can Chi của năm sanh tức tuổi.
2. An Can Chi của tháng sanh.
3. An Can Chi của ngày sanh.
4. An Can Chi của giờ sanh.

1. An Can Chi năm sanh:
Dùng bàn tay 12 Chi, hoặc Địa Bàn 12 Cung (xem h́nh trang 18 và 19), cần thuộc kỹ Can – Chi và đếm ngược xuôi mau lẹ.

NGUYÊN TẮC

- Cung và tuổi khởi điểm để đếm: Hành niên năm nào th́ lấy cung ấy làm khởi điểm. Mỗi Cung chỉ có 2 tuổi khởi điểm: Nhỏ lên 1 tuổi, lớn 61 tuổi.
- Cách đếm: Phải đếm 2 ṿng:
a). Ṿng đi thuận chiều đếm từng chục tuổi mỗi Cung.
Năm Âm th́ t́m những cung Âm mà đi.
Năm Dương th́ t́m những cung Dương mà đi.
. Ṿng đi nghịch chiều đếm số tuổi lẻ dưới 1 chục, và đếm liền liền không bỏ cách Cung nào, không phân biệt Âm Dương.
Ví dụ 1: Hành niên năm Quư Sửu, tính tuổi 39 xem Can Chi là ǵ? Lấy cung Sửu và 1 tuổi làm khởi điểm.
a). Đếm xuôi từng chục tuổi.
QUƯ SỬU lên một ở cung SỬU
QUƯ MĂO lên 11 ở cung MĂO
QUƯ TỴ 21 ở cung TỴ
QUƯ MÙI 31 ở cung MÙI.
Ngừng lại ở cung Mùi, v́ đi nữa sang cung Dậu là 41 tuổi th́ qua 39. Từ cung Mùi bắt đầu đếm ngược lại.
. Đếm ngược từng tuổi một.
31 Quư Mùi, 32 Nhâm Ngọ, 33 Tân Tỵ, 34 Canh Th́n, 35 Kỷ Măo, 36 Mậu Dần, 37 Đinh Sửu, 38 Bính Tư và 39 Ất Hợi.
Ví dụ 2: Hành niên năm Giáp Dần, tính tuổi 75, xem Can Chi ǵ?
Lấy cung Dần và tuổi 61 làm khởi điểm.
a). Đếm xuôi từng chục tuổi.
Giáp Dần 61 ở cung Dần.
Giáp Th́n 71 ở cung Th́n.
Ngừng lại ở cung Th́n, v́ đi nữa sang cung Ngọ là 81 th́ quá tuổi 75.
. Đếm ngược từng tuổi 1.
71 Giáp Th́n, 72 Quư Măo, 73 Nhâm Dần, 74 Tân Sửu, 75 Canh Tư.
Có một điều rất quan trọng là Bát Tự tính tuổi khác hẳn Tử vi.

Cách tính tuổi của Bát tự
Theo phép tính Tử Vi th́ sanh năm nào chịu tuổi năm ấy, từ giờ Tư giao thừa đến giờ Hợi đêm 30 tháng 12, đều thuộc vào một tuổi Can Chi.
Bát tự tính khác Bát tự lấy ngày giờ tiết Lập xuân làm cái mức để tính tuổi.
Sang năm mới rồi mà chưa Lập xuân (Lập xuân đến muộn). Nếu ai sanh vào khoảng ấy, th́ c̣n phải chịu tuổi năm cũ, mặc dù người ta đang vui Xuân, mừng tuổi nhau tưng bừng.
- Trái lại, c̣n ở cuối tháng chạp năm cũ, mà đă Lập Xuân (Lập xuân đến sớm), nếu ai sanh vào khoảng ấy tức th́ đuợc tuổi mới ngay.
Ví dụ 1: Năm Quư Sửu (1973) ngày mồng 2 tháng 01 giờ Th́n Lập Xuân. Em A, sanh vào giờ Măo trước giờ Lập xuân thế là chịu tuổi Nhâm Tư của năm cũ.
Ví dụ 2: Năm Tân Hợi (1971) ngày 21 tháng 12 giờ Dần Lập xuân, em B sanh vào giờ Măo, ngay sau Lập xuân 1 giờ, thế là được tính tuổi Nhâm Tư năm mới.
Để có một cái nh́n tổng quát về các tuổi, nên lập Bảng sau đây:

Bảng Lục Thập Hoa Giáp (L.T.H.G) và Nạp Âm
a). Thế nào là Lục Thập Hoa Giáp?
Tất cả các người sanh trên trái đất này, dù có mấy ngàn triệu người, nếu tính theo Can Chi, th́ cũng chỉ có 60 tuổi không hơn không kém.
Tại sao thế? Tại v́ chỉ có 10 Can phối hợp với 12 Chi mà thành ra.
Trên đă nói: Can Âm t́m Chi Âm để hợp, Can Dương t́m Chi Dương để hợp.
Vậy làm con tính nhân nhỏ:
5 Can Âm x 6 Chi Âm : 30 tuổi Can – Chi Âm.
5 Can Dương x 6 Chi Dương : 30 tuổi Can – Chi Dương.
Tổng cộng : 60 tuổi Can – Chi
60 tuổi Can – Chi này hợp thành một bảng gọi là bảng Lục Thập Hoa Giáp. Thời gian từ khai thiên Lập địa đến măi măi sau này, cũng chỉ thâu tóm vào trong cái bảng này.
Bất sanh bất diệc, mặc dù loài người và vạn vật sanh sanh diệt diệt vô cùng tận.
V́ trở đi trở lại chỉ có 60 tuổi Can – Chi, nên mỗi tuổi Can – Chi 60 năm về trước hay 60 năm về sau, mới lại thấy trùng một lần.
Ví dụ: Một em bé sanh năm Giáp Dần lên 1 tuổi, th́ chỉ có ông già lên 61 tuổi, sanh trước em 60 năm, là cùng tuổi Giáp Dần. Hoặc cháu chắt em bé ấy, 60 năm nữa mới sanh ra, th́ cũng tuổi Giáp Dần. Lẽ này chứng minh tại sao trong mỗi Cung của 12 Chi, chỉ có 2 tuổi làm khởi điểm 1 và 61.
. Thế nào là Nạp Âm?
Mỗi người trong chúng ta, ai cũng đội một tên Can – Chi trong bảng L.T.H.G. Nên mỗi người được bẩm thụ 1 Mạng thuộc vào một trong Ngũ hành. Mạng ấy tức là Nạp âm.
Ví dụ: Tuổi Giáp Dần mạng Thủy, hay nói là: Nạp âm Thủy cũng thế.
Lưu ư 3: Hành của Mạng do Can – Chi phối hợp, khác với hành của Can và của Chi tách riêng. Ví dụ: Giáp Dần mạng Thủy, nhưng tách riêng th́ Giáp thuộc Mộc, Dần thuộc Mộc, Quư Sửu mạng Mộc nhưng tách riêng th́ Quư thuộc Thủy và Sửu thuộc Thổ.
0 Liên kết
11/25/2015 9:48:31 AM

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431


Cước Chú (I) Bảng L.T.H.G dùng để gọi Can – Chi 60 năm, vừa để gọi Can Chi 60 ngày. Cũng như về năm, mỗi ngày cách trước 60 ngày hoặc cách sau 60 ngày mới lại trùng tên Can Chi một lần. Ví dụ: hôm nay là ngày G.Dần th́ 60 ngày trước đây hoặc 60 ngày sau đây mới lại có ngày G-Dần.
. Tiết hậu của tháng định đoạt vị trí tháng sanh.
Theo Tử vi, sanh tháng nào th́ lấy Số theo tháng ấy, sanh tháng 1 th́ nhất định là tháng 1, sanh tháng 12 th́ nhất định là tháng 12. Tử Vi căn cứ vào con Số mà tính.
Bát tự không thể. Về Bát tự, sanh tháng 01 có khi tính là tháng 12 năm cũ. Sanh tháng 12 năm nay có khi tính là tháng 01 sang năm, thế mới rắc rối cái tơ ṿ. Đó là v́ Bát tự không căn cứ vào con số tháng, mà chỉ căn cứ vào Tiết hậu của tháng (gọi tắt là Tiết). Mỗi tháng có một Tiết, 12 tháng là 12 Tiết. Tiết nào đến th́ tháng ấy mới kể, chưa đến chưa kể, mặc kệ mồng 1 mồng 2 v.v... cứ réo lên là đầu tháng rồi đây. Đầu tháng với Tử Vi chứ không đầu tháng với Bát tự, v́ tiết tháng của Bát tự nó đến không nhất định, có khi sớm, có khi muộn hàng cả chục ngày. Sự sớm muộn ấy đă thay đổi cả Can Chi của tháng và năm nữa. Nó định đoạt Vị trí tháng sanh, năm sanh là thế.
V́ vậy, muốn tính Can Chi tháng, phải thuộc tên Tiết của 12 tháng (tháng Bát tự gọi là Nguyệt Kiến v́ tháng dựng theo Tiết).
Sau đây là Bảng 12 Tiết
Tháng Dần 01 Tiết Lập Xuân
Măo 2 Kinh - Trập
Th́n 3 Thanh – Minh
Tỵ 4 Lập - Hạ
Ngọ 5 Mang - Chủng
Mùi 6 Tiểu - Thử
Thân 7 Lập – Thu
Dậu 8 Bạch - Lộ
Tuất 9 Hàn - Lộ
Hợi 10 Lập – Đông
Tư 11 Đại - Tuyết
Sửu 12 Tiểu – Hàn
Nay đă trang bị đủ dụng cụ: Nguyên tắc Ngũ Dần hoặc Nguyệt Biểu, và bảng 12 tiết rồi th́ có thể đi t́m Can Chi của tháng được.
Theo tŕnh tự đi t́m th́:
- Trước hết phải xem Tiết tháng nó đến ngày giờ nào để định đoạt Chi tháng (xem Bách Niên Lịch Phụ chương sách này).
- Biết Chi rồi phải nhờ đến Ngũ Dần và Nguyệt Biểu để gọi ra Can tháng, cũng như phải có người Bố để khai họ tên cho Con (Can là họ và Chi là tên).
Bây giờ đi vào áp dụng:
- Ví dụ 1: Trường hợp tháng sanh đúng Tiết.
Năm Tân Dậu, sanh tháng 4, ngày 21.
(Xem Bách Niên Lịch) Tiết Lập Hạ tháng 4 đă đến từ lúc giờ Tỵ, ngày 29 tháng 3. Sanh 21 tháng tư sau Tiết Lập Hạ, mà chưa sang Tiết Mang Chủng tháng 5, th́ vẫn c̣n ở tháng 4, nên được đặt tên Chi là tháng Tỵ.
- Tra Nguyệt Biểu th́ thấy cặp Bính – Tân (tuổi Tân Dậu) đặt họ cho tháng Tỵ là Quư. Vậy là tháng Quư - Tỵ, nên có thể an:
Năm Tân Dậu tháng Quư Tỵ.
Ví dụ 2: Trường hợp tháng sanh lệch Tiết.
Năm Nhâm Th́n, sanh tháng 2 mồng 1.
- Mồng 10 tháng 2, tiết Kinh Trập mới đến Người này tuy sanh vào tháng 2, nhưng ông chủ mới là tiết Kinh - Trập chưa đến, th́ hẳn c̣n phải chịu mệnh lệnh của ông chủ cũ mà tiết Lập Xuân tháng 01, nên được đặt tên Chi là Dần (Cũng coi như sanh vào tháng Dần, v́ ai bảo cậu ra đời sớm trước Tiết).
- Tra Nguyệt Biểu th́ thấy cặp Đinh Nhâm đặt họ cho tháng Dần là Nhâm. Vậy là tháng Nhâm Dần nên có thể an:
Năm Nhâm Th́ tháng Nhâm Dần.
Ví dụ 3: Trường hợp tháng sanh lệch Tiết, mà lệch luôn cả năm sanh: lệch Tiến Bộ (1).
Năm Bính Ngọ, tháng 12 ngày 27.
- Ngày 25 tháng 12 đă Lập Xuân của năm sau là Đinh Mùi, sanh ngày 27 sau Lập Xuân, nên được hưởng tuổi năm mới là Đinh Mùi. Và Lập Xuân là tiết của tháng Dần nên cũng được coi như sanh tháng Dần.
- Cặp Đinh Nhâm cho thấy Can của tháng Dần là Nhâm. Vậy có thể an:
Năm Đinh Mùi, tháng Nhâm Dần.
Lưu ư 5: Xem ví dụ trên, người sanh tháng 12 năm trước, mà tính là sanh tháng 01 năm sau kể cũng kỳ. Nhưng đó là cái hay đặc biệt, rất khoa học của môn Bát tự, v́ nó căn cứ vào Tiết hậu là cái ǵ có sự thật mà kinh nghiệm thời gian của Âm Dương Lịch hàng mấy ngàn năm đă chứng minh.
Ví dụ 4: Trường hợp tháng sanh lệch Tiết mà lệch luôn cả năm sanh: Lệch Thoái bộ (2).
Năm Quư Măo, tháng 01 ngày 10.
Ngày 11 tháng 01 mới, Lập Xuân Quư Măo. Vậy sanh ngày 10 trước Lập Xuân, th́ c̣n phải chịu tuổi năm cũ là Nhâm Dần. V́ chịu tuổi năm cũ, nên tháng sanh cũng phải bỏ tháng 01 để theo tháng 12 năm cũ, tức là bỏ tháng Dần mà lui về tháng Sửu.
- Cặp Đinh Nhâm cho thấy Can của tháng Sửu là Quư. Vậy có thể an:
Năm Nhâm Dần tháng Quư Sửu.

3. An Can Chi ngày sanh:
T́m ngày sanh giản dị hơn t́m tháng sanh nhiều. Chỉ cần tra ở Bách Niên Lịch trong sách này.
Trong Lịch mỗi tháng chỉ nên ra Can Chi của 3 ngày: Mồng 1, 11 và 21. Những ngày khác th́ dùng bàn tay 12 Chi để tính ra được cả. Những ngày từ 01 đến 10 th́ khởi từ 01 cứ thuận Can Chi mà đếm đi đến ngày sanh. Những ngày từ 11 đến 20 th́ khởi từ 11 cứ thuận Can Chi mà đếm đến ngày sanh. Những ngày từ 21 đến cuối tháng (29 tháng thiếu hay 30 tháng đủ), th́ khởi từ 21 mà đếm thuận đến ngày sanh.
Ví dụ 1: Năm Bính Dần tháng 10 ngày 8.
Tra Bách Niên Lịch và tính theo như trên th́ tháng 10 là Kỷ Hợi.
- Ngày 01 tháng 10 là Mậu Tuất, dùng bàn tay 12 Chi mà tính thuận ngày th́ 1 ở Tuất, 2 ở Hợi, 3 ở Tư, 4 ở Sửu, 5 ở Dần, 6 ở Măo, 7 ở Th́n, 8 ở Tỵ. Lại tính Mậu ở Tuất th́, tính thuận Kỷ ở Hợi, Canh ở Tư... đến Ất ở Tỵ. Vậy ngày 8 tháng 10 là ngày Ất Tỵ, có thể an:
Năm Bính Dần, tháng Kỷ Hợi, ngày Ất Tỵ.
Ví dụ 2: Năm Đinh Dậu, tháng 3 Giáp Th́n, ngày 26, tra Bách Niên Lịch th́ ngày 21 tháng 3 là Nhâm Tuất. Tính thuận 22 là Quư Hợi, 23 là Giáp Tư... đến 26 là Đinh Măo. Có thể an: Năm Đinh Dậu tháng Giáp Th́n, ngày Đinh Măo.

4. An Can Chi giờ sanh:
Giờ đây là giờ Âm lịch, thường dùng để tính số, và gồm 2 giờ đồng hồ. Một ngày đêm có 24 giờ đồng hồ, th́ chỉ có 12 giờ Âm lịch, nghĩa là 1 giờ Âm lịch gồm 2 giờ đồng hồ.
Sách Tử Vi nào cũng nói về giờ. Tiện đây cũng viết ra để độc giả khỏi mất công đi t́m kiếm.
12 Giờ Âm Lịch là
1. Giờ Tư từ 23g đến 01g.
2. Giờ Sửu từ 01g đến 03g.
3. Giờ Dần từ 03g đến 05g.
4. Giờ Măo từ 05g đến 07g.
5. Giờ Th́n từ 07g đến 09g.
6. Giờ Tỵ từ 09g đến 11g.
7. Giờ Ngọ từ 11g đến 13g.
8. Giờ Mùi từ 13g đến 15g.
9. Giờ Thân từ 15g đến 17g
10. Giờ Dậu từ 17g đến 19g.
11. Giờ Tuất từ 19g đến 21g.
12. Giờ Hợi từ 21g đến 23g.
Lưu ư 6: Muốn cho dễ nhớ, đem bảng địa bàn 12 cung mà viết thêm số giờ vào từng cung từ Tư đến Hợi.
. Bảng giờ trên đây là giờ chính thức. Nhưng từ hồi 1943 xảy ra chiến tranh ở Việt Nam, liên miên tới ngày nay, đồng hồ của nhà nước có vặn lại nhiều lần, khi th́ lấy nhanh lên 1 hay 2 giờ, khi th́ trở lại giờ chính thức. Nhà Lư Số cần biết để tính giờ cho đúng.
Sau đây là bảng giờ của đồng hồ vặn lại.
Từ 01/1/1943 đến 9/3/1945, giờ Tư từ 0g đến 2g (nhanh lên 4g).
Từ 09/3/1945 đến 01/9/1945, giờ Tư từ 1g đến 3g (nhanh lên 2g).
Từ 02/9/1945 đến 28/2/1946, giờ Tư từ 23g đến 1g (tức giờ chính thức).
Từ 01/3/1946 đến 30/6/1955, giờ Tư từ 0g đến 2g (nhanh lên 4g).
Từ 01/7/1955 đến 31/12/1959,giờ Tư từ 23g đến 1g (tức giờ chính thức).
Từ 01/1/1960 đến nay, giờ Tư từ 0g đến 2g (nhanh lên 1g).

Can Chi giờ sanh
a). Can của giờ sanh hoàn toàn do Can của ngày sanh định đoạt cũng như Can của tháng sanh hoàn toàn do can của năm sanh định đoạt. Chỉ dùng Can thôi chứ không dùng Chi, cũng như Cha khai tên họ cho con.
. Muốn tính Can Chi giờ sanh th́ cần biết nguyên tắc Ngũ Tư sau đây, rồi x̣e bàn tay 12 Chi ra, đếm xuôi cả Can lẫn Chi từ cung Tư đến giờ sanh th́ ngưng. Nguyên tắc Ngũ Tư.
Cặp ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tư.
Cặp ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tư.
Cặp ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tư.
Cặp ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tư.
Cặp ngày Mậu Tư khởi giờ Nhâm Tư.
Ví dụ: Năm Tân Dậu, tháng Quư Tỵ.
Ngày Tân Măo, giờ... Th́n.
Tính: Theo nguyên tắc Ngũ Tư trên th́ ngày Tân Măo thuộc cặp Bính Tân, vậy khởi giờ Mậu Tư. Đếm Mậu Tư, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Măo, Nhâm Th́n. Điều chữ Nhâm vào chỗ giờ Th́n, ở trên thành giờ Nhâm Th́n.
Để giúp thêm trí nhớ, lập Biểu sau đây:


0 Liên kết
11/25/2015 9:49:43 AM

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431
TÓM LƯỢC CHƯƠNG A

BÁT TỰ
I. Muốn lấy số Hà Lạc, trước hết phải lấy Bát tự của số, nghĩa là Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sanh.
II. Muốn an Can Chi, trước hết phải thuộc ḷng tên 10 Can và 12 Chi và đếm được ngược xuôi trên bàn tay cũng như trên địa bàn 12 cung, lại cần nhớ, Can Chi nào thuộc Âm hay Dương và thuộc hành ǵ (THỦY, HỎA, MỘC, KIM, THỔ)
1). An Can Chi năm sanh:
Cần nhớ 2 nguyên tắc về:
- Cung và Tuổi khởi điểm để đếm: 1 và 61.
- Cách đếm 2 ṿng:
a). Ṿng thuận đếm từng chục tuổi.
. Ṿng nghịch đếm số lẻ dưới một chục.
Có 2 ví dụ: Lấy 1 tuổi làm khởi điểm, lấy 61...
Tính tuổi Bát tự căn cứ vào Tiết Lập Xuân, ví dụ:
Em A sanh trước Lập Xuân nên chịu tuổi năm cũ.
Em B sanh sau Lập Xuân được tuổi năm mới.
Bảng Lục Thập Hoa Giáp và Nạp Âm để giải thích.
a. Tại sao chỉ có 60 tuổi Can Chi?
b. Nạp âm tức Mạng thuộc Ngũ hành.
c. Cách sử dụng Bảng L.T.H.G để t́m mạng của tuổi.
2). An Can Chi tháng sanh
a). Can của năm sanh gọi là Can tháng sanh: Cần nhớ Luật Ngũ Dần, Bảng tên 12 Chi tháng và Nguyệt biểu.
. Tiết hậu của tháng quyết định tháng sanh, sanh sau Tiết tháng nào th́ mới kể là sanh vào tháng ấy (Cần nhớ tên 12 Tiết). Áp dụng, có 4 ví dụ (sanh đúng Tiết, Lệch Tiết mà không lệch năm, Lệch tiến bộ, lệch thoái bộ).
3). An Can chi ngày sanh.
Tra bảng niên lịch và khởi đếm từ 3 ngày trong tháng: ngày 01, 11, 21.
4). An Can Chi giờ sanh.Phải tính giờ chính thức.
a). Can ngày sanh quyết định Can giờ sanh.
. Nhớ Luật Ngũ Tư và xem Nhật biểu.
0 Liên kết

Trang Nhà » Nghiên Cứu Bát Tự Hà Lạc » BÁT TỰ HÀ LẠC - TG HỌC NĂNG