logo
Powered by Jitbit Forum free trial version.
Trang Chủ Diễn Đàn Chủ Đề Mới Bài Mới Tìm Kiếm Trợ Giúp  

Quỷ Cốc Toán Mệnh



Làm thẻ hội viên | Quên Mật Mã
Lịch
Trình
Quỷ Cốc Toán Mệnh
Bát Tự
Tử Vi
Bói Dịch
Quan Đế Linh Xâm
Thông Tin
Làm thẻ hội viên
Trang Nhà
Diễn đàn
Nội Quy
recent posts - RSS

Trang Nhà » Tin nhắn cuối

3/22/2017 12:52:32 PM
Topic:
Chinh Phu Ngâm (diễn nôm)

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
ĐÀM TRUNG PHÁP: CHINH PHỤ NGÂM DIỄN NÔM : MỘT DỊCH PHẨM THẦN KỲ



Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017





* Các tranh minh họa đen trắng trong bài

do nhà văn Trùng Dương sáng tác năm 1982




Chinh Phụ Ngâm (征婦吟) bằng Hán văn của tác giả Đặng Trần Côn (1705-1745) viết theo lối “trường đoản cú” đã được diễn nôm (dịch sang Việt văn) bằng thể thơ “song thất lục bát” một cách thần kỳ. Tuy nhiên cho đến nay, giữa hai danh tài Đoàn Thị Điểm (1705-1749) và Phan Huy Ích (1751-1822), ai là người đích thực đã hoàn tất công trình diễn nôm này vẫn chưa ngã ngũ.


ƯU THẾ CỦA DỊCH PHẨM


Tuy là dịch phẩm từ một nguyên tác bằng chữ Hán, ta có thể nói không ngoa rằng bản Chinh Phụ Ngâm diễn nôm (tự hậu viết tắtCPNdn) là một tuyệt tác văn chương Việt Nam. Được chuyển ngữ siêu việt với nhiều yếu tố sáng tác sang tiếng Việt qua lối viết chữ nôm, CPNdn đã làm lu mờ danh tiếng nguyên tác viết bằng chữ Hán của tác giả Đặng Trần Côn,cũng được coi là một thi khúc thượng đẳng mà chủ đề là những lời than vãn của một thiếu phụ có chồng đi chinh chiến lâu ngày chưa về.


Ưu thế của CPNdn thực dễ hiểu, vì người diễn nôm đã dùng tiếng Việt cho người Việt đọc, với tất cả tinh túy của tiếng Việt. Có lẽ chẳng mấy ai bất đồng ý kiến với nhận định rằng thi ca chỉ có thể thực sự được tận hưởng qua ngôn ngữ mẹ đẻ của người thưởng lãm. Ưu thế này lại được tăng thêm bởi thể thơ song thất lục bát “mang âm hưởng quen thuộc của ca dao dân tộc, dễ đi sâu vào tâm hồn, vào cảm quan thẩm mỹ của đại chúng”[1] cộng với “cái giọng buồn buồn đều đặn như khêu gợi mong nhớ xa xôi có thể xem là rất thích hợp để diễn tả tâm hồn chinh phụ.”[2]


Thật vậy, tuy chữ Hán khi phát âm kiểu HánViệt có nhiều từ vựng quen biết, nó vẫn là một “ngoại ngữ”– chẳng khác gì Anh ngữ đối với ta. Để minh chứng điều đó, ta chỉ cần lần lượt đọc lên một đoạn nguyên tác bằng Hán ngữ (từ câu 136 tới câu 141) của tác giả Đặng Trần Côn, phần dịch của học giả Huỳnh Sanh Thông sang Anh ngữ,[3]và phần chuyển sang Việt ngữ trong CPNdn :







Hán ngữ (Đặng Trần Côn)
憶昔与君相別時Ức tích dữ quân tương biệt thì,
柳條猶未囀黄鸝Liễu điều do vị chuyển hoàng ly.
問君何日归Vấn quân : Hà nhật quy?
君約杜鹃啼Quân ước : Đỗ quyên đề.
杜鹃已逐黄鸝老Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão,
青柳楼前語意鴯Thanh liễu lâu tiền ngữ ý nhi.


Anh ngữ (Huỳnh Sanh Thông)
No orioles yet on willows – you set out
and promised you’d come back when cuckoos sang.
Cuckoos have followed orioles grown old –
before the house some swallows chirp and peep.


Việt ngữ (diễn nôm)
Thuở lâm hành, oanh chưa dạn liễu,
Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.


Trong phần còn lại của bài, người viết sẽ nhận diện và kiểm điểm các yếu tố có lẽ đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự thành công thần kỳ của người đã chuyển nguyên tác Chinh Phụ Ngâm bằng chữ Hán của tác giả Đặng Trần Côn sang tiếng Việt. Nỗ lực lượng giá các yếu tố quan trọng ấy sẽ tập trung vào từ tuyển pháp (cách lựa chọn từ ngữ) và tu từ pháp (cách sử dụng các biện pháp tu từ) qua một phối cảnh ngữ học.


TỪ TUYỂN PHÁP (DICTION)[4]


Dịch giả có khả năng bỏ qua điển tích Hán mà vẫn giữ được ý chính của đoạn thơ chữ Hán. Trong buổi thảo luận (giữa người viết bài và nhà biên khảo Nguyễn Bá Triệu năm 2000 tại Dallas)[5] về tài năng chuyển ngữ của dịch giả, chúng tôi có nhắc đến đoạn thơ dịch từ câu (068) đến (071) –trong đó một điển tích cầu kỳ liên hệ đến khúc hát Mạch Thượng Tang, đến nàng La Phu xinh đẹp đang đứng hái dâu, và đến ông vua Triệu Vương đa tình– đã được khéo léo bỏ qua bằng cách thay nó với câu chuyển nôm (069) gọn gàng và êm ái :


Tương cố bất tương kiến 相顧不相見
(068) Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thanh thanh mạch thượng tang 青青陌上桑
(069) Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Mạch thượng tang, mạch thượng tang! 陌上桑陌上桑
(070) Ngàn dâu xanh ngát một mầu
Thiếp ý, quân tâm, thùy đoản tràng? 妾意君心谁短长
(071) Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?





Cũng trong chiều hướng Việt hóa tối đa trong thơ dịch, người diễn nôm không đả động đến chữhề (một trợ ngữ từ có nghĩa là vậy hoặcchứ) đầy rẫy trong nguyên tác. Trong thí dụ dưới đây, hai câu Hán văn đều có chữ “hề” trong đó, nhưng dịch giả đã tránh né hai trợ ngữ từ “rất Hán” ấy khi diễn nôm :


Vọng vân khứ hề ! lang biệt thiếp = (051) Dấu chàng theo lớp mây đưa
Vọng sơn phụ hề ! thiếp tư lang= (052) Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà


Dịch giảcó biệt tài sử dụng từ ngữ Việt chính xác cho mỗi văn cảnh (literary context) để “dịch” cùng một từ ngữ Hán, thí dụ như trong trường hợp từ kép điệp âm Hán văn du du (viết là攸攸và悠悠) được “dịch” thành ba từ điệp ngữ (reduplicants) “thăm thẳm” /“dặc dặc” /“đau đáu” cho ba văn cảnh khác nhau :
Du du bỉ thương hề, thùy tạo nhân 攸攸彼苍兮谁造因
(003) Xanh kia thăm thẳm từng trên, (004) vì ai gây dựng cho nên nỗi này
Tống quân khứ hề, tâm du du送君去兮心悠悠
(027) Đưa chàng, lòng dặc dặc buồn
Ức quân du du hề, tứ hà khuy 憶君悠悠兮思何窺
(249) Nỗi chàng đau đáu nào xong





Dịch giả cũngthường sử dụng các điệp ngữ đối xứng trong hai câu thơ nối tiếp nhau, khiến ý nghĩa của chúng được nhấn mạnh và nâng cao :


(368) Lòng hứa quốc thắm son ngắt ngắt
(369) Sức tí dân dường sắt trơ trơ


(401) Sẽ rót vơi lần lần đòi chén
(402) Sẽ ca dần ren rén từng liên





TU TỪ PHÁP (RHETORIC)


Các biện pháp tu từ (rhetorical devices) sử dụng nhiều trong CPNdn được trình bầy dưới đây qua phối cảnh ngữ học (linguistic perspective) với lý giải và thí dụ đi cùng. Ta sẽ thấy các biện pháp tu từ này –mặc dù một số trong đó có tính cách ước lệ (conventionalized) – được dịch giả sử dụng hết sức ngoạn mục :


Biền ngẫu (semantic and syntactic parallelism) là một biện pháp tu từ rất phổ cập trong thi ca Hán và Việt cổ điển. Biện pháp nàylấy “đối” (trong hình thức cũng như trong nội dung) làm nguyên tắc cơ bản, tạo cho lời văn sự nhịp nhàng cân đối. Trong CPNdn, đa số các cặp câu thơ bẩy chữ (song thất) phản ánh lối văn biền ngẫu. Ký hiệu“<>” dưới đây đọc là “ đối với” :


(53-54) [Chàng thì đi] [cõi xa mưa gió] <> [Thiếp thì về] [buồng cũ chiếu chăn]


(97-98) [Hồn tử sĩ] [gió] [ù ù] [thổi] <>[Mặt chinh phu] [trăng] [rõi rõi] [soi]


Liên hoàn (enjambment) là thể thơ trong đó nhóm chữ cuối câu trên được nhắc lại thành nhóm chữ đầu câu dưới, mục đích để tiếp nối ý nghĩ chưa hết ở cuối câu trên :


(142-143) Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh / Rêu xanh mấy lớp chung quanh


(146-147) Bức rèm thưa lần giải bóng dương / Bóng dương mấy buổi xuyên ngang


Ví von (simile) là biện pháp tu từ thường được sử dụng để so sánh, với hiệu lực làm câu thơ thêm sinh độngqua những hình ảnh ngoạn mục :
(039-040) Áo chàng đỏ tựa ráng pha / Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in


(022) Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao


Tương phản (contrast) có mục đích làm cho câu thơ thêm hiệu quả diễn đạt. Ký hiệu “ >< ” dưới đây đọc là “tương phản” :





(53-54) [Chàng thì đi] [cõi xa] [mưa gió] ><[Thiếp thì về] [buồng cũ] [chiếu chăn]


(177-178) [Trải mấy xuân] [tin đi tin lại] >< [Đến xuân này] [tin hãy vắng không]


Biểu tượng (metaphor) là biện pháp thay tên một sự vật bằng tên một sự vật khác, với mục đích tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt ý thơ :


(136) Thuở lâm hành, oanh chưa dạn liễu,
(137) Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.
(138) Nay quyên đã giục oanh già,
(139) Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.


Theo văn cảnh của bốn câu thơ trên (để nói về thời điểm trong năm) thì chim oanh là biểu tượng cho mùa xuân, chim quyên cho mùa hạ, và chim én (ý nhi)[6] cho mùa thu. Ba loại chim này đồng thời cũng được nhân cách hóa (personified).


Đảo ngữ (inversion) là biện pháp tu từ cho đảo lộn vị thế xuất hiện thông thường trong một câu, tức là {chủ từ +động từ +túc từ} thành ra {túc từ + chủ từ + động từ} với mục đích nhấn mạnh ý diễn tả. Trong hai câu thơ dưới đây, chủ từ là “gió ” và “trăng”; động từ là “thổi ù ù” và “soi dõi dõi”; và túc từ là “hồn tử sĩ” và “mặt chinh phu”:


(97)“Hồn tử sĩ /gió / ù ù thổi” là đảo ngữ của câu với vị thế xuất hiện thông thường:“Gió/thổi ù ù / hồn tử sĩ”


(98)“Mặt chinh phu / trăng / dõi dõi soi” là đảo ngữ của câu với vị thế xuất hiện thông thường : “Trăng / soi dõi dõi /mặt chinh phu”


Điệp ngữ (repetition) là biện pháp tu từ cho lặp lại một từ ngữ, một nhóm chữ, hay cả câu để làm nổi bật ý và gây cảm xúc mạnh :


(254) Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi


(255) Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề


(225) Hoa giải nguyệt, nguyệt êm một tấm
(226) Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
(227) Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
(228) Trước hoa, dưới nguyệt trong lòng xiết đau




Khuếch đại (hyperbole) là biện pháp có mục đích nhấn mạnh ý qua ngôn từ thậm xưng vượt quá xa sự thực :


(216) Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời


(203) Khắc giờ đằng đẵng như niên


Cấu trúc đề-thuyết (topic-comment structure) rất phổ cập trong ngữ pháp Việt Nam. Trong cấu trúc này, yếu tốđềbắt đầu câu với một đề tài, theo sau là yếu tốthuyết để giải thích đề tài ấy. Biện pháp tu từ này làm cho lời thơ dễ hiểu, tựa như tiếng Việt nói(spoken Vietnamese) lúc bình thường :


(353) Kìa loài sâu (đề) / đôi đầu cùng sánh (thuyết)


(354) Nọ loài chim (đề) / chắp cánh cùng bay (thuyết)


(357) Ấy loài vật (đề) / tình duyên còn thế (thuyết)


(358) Sao kiếp người (đề) / nỡ để đấy đây (thuyết)


Câu hỏi tu từ (rhetorical question) là câu hỏi trống không – vì tác giả cố tình không cung cấp câu trả lời cho nó – cốt để gợi lên các nỗi băn khoăn, xót xa, trăn trở cho người đọc :


(99) Chinh phu tử sĩ mấy người ?


(100) Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn ?


TÂM TƯ NGƯỜI VIẾT


Qua những nhận xét về cách lựa chọn quyền biến phi thường những từ ngữ phù hợp tối đa cho mỗi văn cảnh, và cách sử dụng xuất chúng các biện pháp tu từ nêu trên, người viết tự thấy mình chẳng quá lời chút nào khi nói rằng Chinh PhụNgâm diễn nôm là một công trình dịch thuật đã đạt tới mức thần kỳ. Dịch giả đã để lại cho hậu thế một tuyệt tác làm cho người đọc dễ nghĩ đến câu Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu của thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều.


ĐÀM TRUNG PHÁP
15 tháng 3 năm2017
Laguna Woods, CA





[1] Lê Hữu Mục và Phạm Thị Nhung (2001): Tiếng Nói Đoàn Thị Điểm trong Chinh Phụ Ngâm Khúc.
2Hà Như Chi (1951): Việt Nam Thi Văn Giảng Luận Toàn Tập.
3 Huỳnh Sanh Thông (1996): An Anthology of Vietnamese Poems.
4 Để phần nào giúp các độc giả sinh trưởng tại hải ngoại dễ theo dõi bài viết hơn, mỗi từ ngữchuyên mônvề văn học Việt sẽ có một từ ngữ tiếng Anh tương đương về ý nghĩa đi kèm.
5 Đàm Trung Pháp (2000): “Giới Thiệu Chinh Phụ Ngâm Tập Chú”củanhà biên khảoNguyễn Bá Triệu.
6 Tự Điển Hán-Việt Nguyễn Quốc Hùng: “Ý nhi 意而–Tên một loài chim, có thuyết bảo là chim yến.” || Tự Điển Hán-Việt Thiều Chửu: “Ý nhi tức chim én.”
Bài trích từ "điendantheky.net"

12/4/2016 10:47:48 PM
Topic:
Tiết lộ bí mật về Quỷ Cốc Toán Mệnh

nguyen
nguyen
Posts: 46
bác Tân ơi bác soạn xong chưa ạ?
11/14/2016 1:44:53 AM
Topic:
Lá Số Tử Vi của Donald Trump

Thoa
Thoa
Posts: 974
Lá Số Tử Vi của Donald Trump

Tên: Donald John Trump
Phái: Nam
Ngày sinh: ngày 14 tháng 6 năm 1946 dương lịch
Giờ sinh: 10:45 sáng
Nơi sinh: Jamaica, Queens, New York, USA
Timezone: Eastern Time



edited by Thoa on 11/14/2016
10/7/2016 7:03:25 AM
Topic:
Chủ Đề Tìm Hiểu Về Phong Thuỷ

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431
DC HTCD Chu de Tim Hieu Khoa Phong Thuy Phan 4


10/7/2016 6:58:48 AM
Topic:
Chủ Đề Tìm Hiểu Về Phong Thuỷ

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431
DC HTCD Chu de Tim Hieu Khoa Phong Thuy Phan 3

10/7/2016 6:54:59 AM
Topic:
Chủ Đề Tìm Hiểu Về Phong Thuỷ

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431
DC HTCD Chu de Tim Hieu Khoa Phong Thuy Phan 2

10/7/2016 6:47:55 AM
Topic:
Chủ Đề Tìm Hiểu Về Phong Thuỷ

Hoa_Hạ
Hoa_Hạ
Posts: 431
Cám ơn vuilien, HH đem về đây để lưu giữ lại

10/6/2016 9:13:54 PM
Topic:
Chủ Đề Tìm Hiểu Về Phong Thuỷ

vuilien
vuilien
Posts: 128
https://www.youtube.com/watch?v=6nKonXzg82o
https://www.youtube.com/watch?v=1Nj_uZlla-k
https://www.youtube.com/watch?v=dHSn1oE-8Pk
https://www.youtube.com/watch?v=bqixmvlvCfA
9/14/2016 5:23:25 AM
Topic:
Kính nhờ bác Tân giải thích hộ cháu bài cách!

nguyen
nguyen
Posts: 46
Lưỡng đầu Đinh -Mậu:


ĐÀO LY KHAI VINH Cách
Hoàng hà hữu thủy khai thông tế
Tự cổ tòng kim bất đoạn lưu
Phượng xuất đan sơn vân trở Cách
Nhạn phi tứ hải vị kinh thu
Kê thanh mao điếm nan an ổn
Hạc ảnh tùng hiên đắc tự do
Tá vấn tàn hoa hoàn kết thực
Tự khai tự lạc kỷ chi đầu

Dịch: HOA ĐÀO HOA LÝ ĐUA TƯƠI
Nước sông Hoàng hà được khai thông
Từ xưa đến nay vẫn chảy không ngừng
Chim Phượng rời núi đám mây ngăn Cách
Nhạn bay lìa bốn bể chưa đúng mùa thu
Gà kêu điếm cỏ chưa yên ổn
Thấy bóng hạc ở cây tùng thì được tự do
Thử hỏi hoa tàn có kết quả được chăng
Nở rồi lại rụng ở đầu cành


cháu đọc mãi nhưng không hiểu được bài cách này, mong bác giảng giúp cháu với ạ. cháu xin cảm ơn và chúc sức khỏe bác!
8/31/2016 11:25:40 AM
Topic:
Tiết lộ bí mật về Quỷ Cốc Toán Mệnh

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Đang soạn bài (Xin chờ) .
6/24/2016 6:19:51 AM
Topic:
Xem tuổi vợ chồng

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Biết năm sinh là biết vợ chồng lấy nhau hợp hay không, khỏi cần đi coi thầy

Nhiều người trước khi cưới nhau thường đi coi thầy để xem cưới nhau có hạp hay không, nhưng từ nay mọi người khỏi cần phải đi coi thầy nhé, chỉ cần biết năm sinh là đủ.

Tuy nhiên, bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, quan trọng vẫn là yếu tố con người. Nếu sống đúng như lời ông bà ta thường dạy: “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa cả đời không khê” thì đôi lứa dễ đi đến bến bờ hạnh phúc.



6/18/2016 3:01:34 PM
Topic:
Trang Quỷ Cốc Toán Mệnh không bị ảnh hưởng

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Kể từ ngày 1/7/2016 NN/VN không cho phép tư nhân hoạt động trên mạng .


Theo luật sư Phạm Công Út (Tp H.C.M..), Điều 292 mới được đưa vào Bộ luật Hình sự năm 2015, đã hình sự hóa những hành vi cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông dựa theo các Nghị định trước đây của Chính phủ nhằm quản lý hành chính về các hoạt động này.
Ví dụ: Theo Nghị định 72/2013 của Chính phủ thì để được cung cấp dịch vụ trên mạng máy tính tính, mạng viễn thông như trò chơi điện tử trên mạng, muốn được hợp pháp thì nhà cung cấp dịch vụ này phải là doanh nghiệp, được thành lập theo pháp luật Việt Nam để được cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử thông qua việc thiết lập hệ thống thiết bị và sử dụng hợp pháp phần mềm trò chơi điện tử.

Còn theo quy định tại khoản 1 điều 292 BLHS năm 2015 thì việc cung cấp dịch vụ trò chơi này nếu nhằm mục đích thu lợi từ 50 triệu đồng trở lên, hoặc có doanh thu từ 500 triệu đồng trở lên mà không có giấy phép thì bị xem là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị điều chỉnh bởi Bộ luật Hình sự.
6/8/2016 7:58:44 PM
Topic:
Saigon ơi, Saigon ơi

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Sơ lược về nguồn gốc một số địa danh miền Nam
Hồ Đình Vũ.

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó... riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy?
Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.
Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác - để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.
Đất Nam Việt mà trước đây người ta còn gọi là Nam Kỳ, người Tây Phương khi đặt chân lên xứ mình hồi thế kỷ 16, 17 đã gọi bằng tên Cochinchine hay Đằng Trong.

Người ta cũng gọi xứ này là Đồng Nai (đồng có nhiều nai), Lộc Dã, Lộc Đồng (cùng một nghĩa) hoặc Nông Nại, là nơi mà người Việt mình đặt chân lần đầu tiên năm 1623. Sử chép rằng Chúa Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên (1613-1635), đã gả Công chúa Ngọc Vạn, lệnh ái thứ 2, cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1626) từ Xiêm trở về lên ngôi báu và đóng đô tại Oulong. Nhờ sự giao hiếu ấy vua Cao Miên mới cho phép người Việt di dân vào Nam Bộ. Chúng ta đã đặt đầu cầu tại Mô Xoài (gò trồng xoài), gần Bà Rịa đúng vào năm 1623( Theo Claude Madrolle -Indochine du Sud, Paris 1926).

Cũng trong năm này một phái đoàn ngoại giao đã được cử sang Oulong để thương thuyết sự nhượng lại Sở Thuế quan Saigon. Về sau đến đời vua Réam Thip Dei Chan(1642-1659), em vua trước, vị hoàng hậu Việt Nam nói trên đã xin vua Cao Miên cho phép người Việt được quyền khai thác xứ Biên Hòa năm 1638.

Sở dĩ vua Cao Miên đã giao hảo với nước ta và tự ý nhân nhượng một phần nào, là vì muốn cậy thế lực của triều đình Huế để chế ngự ảnh hưởng của người Xiêm. Như vậy chúng ta đã đến sinh cơ, lập nghiệp, khai khẩn đất đai Nam Bộ là do sự thỏa thuận hoàn toàn của đôi bên, chứ tuyệt nhiên không phải là một sự xâm nhập. Lại nữa nhờ uy thế của chúng ta mà Cao Miên đã đối phó hiệu quả với những tham vọng của nước Xiêm và bảo toàn được nền độc lập của mình.

Nói tóm lại sự hiện diện của chúng ta từ hơn 800 năm nay tại Nam bộ rất là hợp tình, hợp lý và hợp pháp. Nói một cách khác công cuộc Nam tiến của tổ tiên ta là một sự kiện lịch sử bất di bất dịch,nó hiển nhiên cũng như cuộc Tây tiến của người Âu Châu tại Mỹ Quốc và cuộc Đông tiến của người Anh tai Úc Châu.

Con sông Đồng Nai đã đưa ta đến tỉnh Biên Hòa (hòa bình ở biên cương), một trấn đã được sáp nhập vào nước ta năm 1653. Khoảng đất này xưa được gọi là Đông Phố đúng ra là Giãn Phố vì hai chữ Đông và Giãn viết theo chữ Hán hơi giống nhau. Về sau nơi này đã được triều đình Huế giao cho bọn người Trung Hoa gốc Quảng Tây di cư theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đến khai khẩn và lập nghiệp năm 1679 tại Cù lao Phố, sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ.

Miền trên Biên Hòa thì có Hố Nai (hố sập nai), Trảng Bom (trảng là một đồi bằng phẳng và rộng rải có trồng nhiều cây chum-bao-hom đọc trạnh thành bom, sinh ra một thứ dầu gọi là chaulmougra, dùng để trị phong hủi.
Phía dưới là nhà thương điên Nguyễn Văn Hoài, một nhà bác học đã quả quyết với chúng tôi rằng trong một đời người, số giờ mà chúng ta điên cuồng cộng lại ít nhất cũng được vài năm!

Biên Hòa là quê hương của Đỗ Thành Nhân, một trong Gia định Tam hùng. Hai người kia là Võ Tánh quê ở Gò Công và Nguyễn Huỳnh Đức quê ở Tân An.
Biên Hòa là xứ bưởi bòng ngon ngọt có tiếng nên mới có câu ca dao :
Thủy để ngư, thiên biên nhạn
Cao khả xạ hề, đê khả điếu,
Chỉ kích nhơn tâm bất khả phòng

E sau lòng lại đổi lòng,
Nhiều tay tham bưởi chê bòng lắm anh


Chúng ta đi ngang qua trước ngọn núi Châu Thới, cao 65m trên có ngôi chùa Hội Sơn, được trùng tu vào đầu thế kỷ thứ 19, nhờ công đức sư Khải Long:
Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,
Nghiêng chùa Châu Thới mới sai lời nguyền !


Rồi đến Thủ Đức với những hồ bơi nước suối, và những gói nem ngon lành. Thủ nhắc lại ngày xưa có những chức quan văn như thủ bạ, thủ hô lo về việc thuế má và nhơn thế bộ. Do đó mà có những địa danh như Thủ Thiêm, Thủ Thừa, Thủ Ngữ v.v.. để nhắc lại tên mấy ông thủ bạ và thủ hộ ngày trước. Miền Thủ Đức lại nhắc cho ta hai câu đối "tréo dò"
Xứ Thủ Đức năm canh thức đủ
Kẻ cơ thần trở lại Cần Thơ


Có lẽ vì năm canh thức đủ mà có kẻ than thân trách phận tự mình sánh với cái nem Thủ Đứclột trần :
Người ta năm chị bảy em
Tôi đây như thể chiếc nem lột trần


Phía tay mặt là Gò Vấp, xưa kia là một ngọn đồi trồng cây vấp. Thứ cây này xưa kia được coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. Dã sử thuật lại rằng vào đời vua Chiêm cuối cùng là Pô Romé (1627-1651), vua này muốn vừa ý một ái phi người Việt đã ra lệnh đốn cây Kraik (vấp) cổ thụ rợp bóng nơi vườn ngự uyển. Hơn một trăm thị vệ lực lưỡng không sao hạ nổi vì vết rìu mỗi lần bổ xong thì khép lại ngay. Nhà vua tức giận cầm lấy rìu hạ xuống một nhát, tức thời một tiếng rên rỉ vang lên và cây gục xuống giữa một vũng máu. Và cũng từ đó vận khí nước Chiêm suy dần cho đến ngày tàn tạ.

Bây giờ ta vào thành phố Saigon, nơi mà 300 năm về trước(1674) tiền đạo quân ta lần đầu tiên đã đặt chân tới,mang theo khẩu hiệu: " Tĩnh vi nông, động vi binh". Quân ta không phải tư động mà đến, chính là do lời yêu cầu khẩn thiết của nhà đương cuộc hồi bấy giờ.
Họ khai khẩn đất đai với sức dẻo dai sẵn có, đào sông ngòi trong vùng đất thấp và đây đó khắp nơi, xây dựng thành trì kiên cố.

Một trong những công tác quân sự ấy do tướng Nguyễn Đức Đàm xây năm 1772,r ồi đến thành trì Phan An xây năm 1790, kế đến là thành Gia Định xây năm 1836. Những thành ấy xây đắp với mấy vạn nhân công và bao nhiêu tài trí như đã ghi trong câu ngạn ngữ :
Dân đất Bắc
Đắp thành Nam:
Đông đã là đông!
Sầu Tây vòi vọi!


Chúng ta đang ở trung tâm thành phố Saigon (sài là củi, gòn là bông gòn) chuyển sang chữ nho thành Sài-Côn là củi gòn, vì chữ nôm gòn viết là Côn, như Ông Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đã ghi trong tác phẩn Gia Định Thống Chí mà hiện nay chúng còn một bản dịch ra pháp văn của ông Gabriel Aubaret.
Theo một số người khác thì Saigon có lẽ do chữ Đê Ngạn đọc thành Tai Ngon hay Thay gon theo giọng Quảng Đông hay Tingan theo giọng Triều Châu, dùng để chỉ thành phố do người Tàu lập nên năm 1778 sau khi họ phải rời bỏ Biên hòa vì chiến sự giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, để nhờ sự bảo hộ của quân đội chúa Nguyễn đóng tại Bến Nghé.
Nguyên ủy xa hơn cả có lẽ là sự chuyển âm của một danh xưng tối cổ Preikor, có nghĩa là rừng gòn, một loại cây hiện nay còn trồng ở Thủ Đô.
Theo Ông Verdeille thì Saigon có thể là hai chữ nho: Tây Cống đọc chạnh ra, tên này ám chỉ rằng thành phố là phần đất xưa kia đã được các vị vua phía Tây cống hiến cho ta. Ta nên lưu ý rằng tên Siagon chỉ được dùng trong các văn kiện của Pháp kể từ 1784 trở đi mà thôi
Còn danh xưng của Chợ-lớn mà người Tây đọc liền lại là Cholon, nó chỉ ngôi chợ xưa kia nằm trên địa điểm hiện tại của Sở Bưu điện Chợ-lớn kéo dài tới tận Đại Thế Giới cũ. Chợ này lập song song với chợ nhỏ hiện nay còn tồn tại với tên chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ. Về sau Chợ-lớn được dời tới Chợ-lớn mới do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng, tượng họ Quách vẫn còn ở giữa đỉnh chợ Bình Tây
Sự biến đổi địa âm dạng của địa danh Saigon đã tùy sự hiện diện liên tiếp của những người quốc tịch khác nhau như Preikor (rừng gòn), Tai- Ngon hay Thầy gòn của người Trung Hoa mà ta đọc là Đê-ngan, người phương tây dùng chữ la mã ghi là Saigon từ năm 1784.
Hồi xưa tên Saigon chỉ áp dụng cho khu vực Chợ-lớn hiện thời, còn chính Saigon bây giờ thì khi ấy là Bến Nghé (theo Trịnh Hoài Đức, theo các nhà hàng hải Âu Mỹ, theo bản đồ do ông Trần Văn Học vẽ ngày mùng 4 tháng chạp năm Gia-Long thứ 14( 1815) ghi trên vùng Chợ-lớn hiện tại chỗ nhà thương Chợ-Rẫy ba chữ Saigon xứ, khoảng gần Cây Mai và Phước Lâm. Khu Saigon cao, nằm phía Đồn Đất tức là cái đồn thâu hẹp năm 1836 sau khi Lê Văn Khôi nổi loạn, chắc đã có người ở từ thời thượng cổ, chứng cớ là những khí giới và đồ dùng bằng đá mài tìm thấy khi đào móng nhà thờ Đức Bà. Khu thấp thường gọi là Bến Nghé hay bến Thành.
Bến Thành là cái tên ở gần hào thành Gia-Định, nguyên trước có cái rạch nối liền hào thành với sông Bến-Nghé và có cái chợ gọi là chợ Bền Thành. Cái rạch ấy về sau lấp đi thành Đại lộ Nguyễn Huệ và đến bây giờ có câu ca dao như sau :
Chợ Bến Thành đèn xanh đèn đỏ,
Anh nhìn cho tỏ thấy rõ đèn màu;
Lấy em anh đâu kể sang giàu,
Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em!


Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là cái bến uống nước của trâu con, do một tên rất cũ là Kompong Krabey (bến trâu) đã được Việt hóa. Nhưng ông Đốc phủ Trần Quang Tuất (1765-1825) cho rằng nơi đây có lắm con cá sấu chúng thường kêu nghé nên gọi là Bến Nghé- Trịnh hoài Đức dịch là "Ngưu-tân" Bến Nghé là cái bến sông Saigon có tên là sông Bến Nghé, cũng có tên là Tân Bình Giang hay là Đức Giang lấy nguồn ở Ban Bót (theo gia-định thống chí) . Còn cái rạch Bến nghé nối dài bởi kinh Tàu -hủ (Arroyo chinois) ngày xưa có tên là Bình Dương và chỗ nó chảy ra giáp sông Bến Nghé gọi là Vàm Bến Nghé. Bến Nghé tức là Saigon và khi ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến Nam Bộ vậy.
Phía đông Saigon có một cái kênh gọi là rạch Thị Nghè hay là rạch Bà Nghè. Bà tên là Nguyễn Thị Canh, con gái thống suất Nguyễn Cửu Văn tức Văn Trường Hầu, đẹp duyên với một ông nghè. Để cho chồng bà tiện đường qua rạch hàng ngày vào làm trong thành, bà cho dựng một chiếc cầu mà dân sự có thể dùng được. Để tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu,họ đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè. Đến khi Tây đến đánh thành Saigon, pháo hạm Avalanche tiến vào rạch này đầu tiên nên họ mới gọi là Arroyo de l'Avalanche.
Trên rạch Bến Nghé hồi xưa có nhiều chiếc cầu ván dựng tạm cho người qua lại. Chiếc cầu nổi tiếng hơn cả là cầu Ông Lãnh, được xây nhờ công ông Lãnh binh, thời tả quân Lê Văn Duyệt. Còn những chiếc cầu khác là Cầu Muối, Cầu Khóm (thơm), Cầu Kho và Cầu học (giếng học). Về các công sự thì có :
Chợ Bến Thành (mới) xây năm 1914 trùng tu năm 1950
Nhà thờ Đức Bà khởi công năm 1877,hoàn thành năm 1883
Sở Bưu Điện Tòa án cất năm 1883

Dinh Norodom khởi công ngày chủ nhật 23-2-1868 với sự tham dự dông đảo của dân chúng. Thủy sư Đô Đốc De La Grandìère với sự hiện diện của kiến trúc sư Hermitte từ HongKong tới, đã đặt viên đá đầu tiên vuông vức mỗi bề nửa mét,trong đó đựng một hộp chì chứa nhũng đồng tiền vàng và bạc dập hình vua Napoléon III. Đức Giám mục Miche, cai quản địa phận,với một số đông con chiên, đã ban phép lành và đọc một diễn văn lời lẽ cao quý đã làm cử tọa đặc biệt chú ý. Công cuộc xây cất trên một khoảng đất rộng 14 mẫu tây đã phải dùng tới hai triệu viên gạch,và cái móng dày tới 3,5m tốn mất 2.436 thước khối đá xanh Biên Hòa. Công tác đã hoàn thành năm 1875 và người đầu tiên đến ở trong dinh đó là Thủy sư Đô Đốc Roze. Sau 84 năm Pháp thuộc, ngày 7-9-1954 Đại tướng Ely, Cao ủy Pháp đã trả dinh thự này cho Chính phủ Việt Nam thời bấy giờ.

Tòa Đô Sảnh (1901-1908) trên có một gác chuông do họa sĩ Ruffier trang trí mặt tiền

Viện Bảo Tàng Quốc Gia xây năm 1927, khánh thành ngày 1-1-1929 , bị vụ nổ nhà thuốc súng làm hư hại ngày 8-3-1946 và được hoàn lại chính phủ Việt Nam ngày 19-9-1951 thu thập tới 4.000 cổ vật đã kê thành mục lục và trình bày trong 14 gian phòng.
Vườn Cầm Thảo (Sở Thú) tương tự với rừng Vincennes ở Pháp, được lập năm 1864. Sau khi đã san bằng,việc đứa thú tới nhốt nơi đó hoàn tất năm 1865. Ngày 28-3-1865 nhà thực vật học Pierre đảm nhiệm việc điều khiển vườn Cầm Thảo Saigon và ngày nay nhiều giống cây ở xứ ta còn mang tên nhà bác học ấy.

Đây đó ta còn gặp một số địa danh nguồn gốc Tây Phương như: Ba-Son (Arsenal) trong có một bến sửa tàu (bassin de radoub) xây bằng ximăng cốt sắt từ năm 1858, và bến tàu nổi được hạ thủy tháng giêng năm 1866. Chữ Ba-Son do chữ Bassin mà ra.

Vườn Bờ Rô (do chữ Jardin des Beaux Jeux) hay là vườn Ông Thượng, xưa kia là hoa viên của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, nay là vườn Tao Đàn.

Dakao là biến danh của Đất Mộ (đất của lăng)

Lăng-tô là biến danh của Tân Thuận, tên một làng mà dân Saigon thường đến hóng mát (pointe des flaneurs).

Bây giờ chúng ta rời Saigon xuống đò Thủ-Thiêm qua bên kia sông xem địa phận mà chính phủ đang trù định một chương trình kiến thiết rộng lớn,để biến nơi này thành một khu vực nguy nga tráng lệ.

Con đò Thủ-Thiêm ngày xưa đã hấp dẫn một số đông những chàng trai trẻ :
Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve được con đò Thủ-Thiêm.


nhưng một ngày kia chàng trai phải ra đi trong khói lửa chiến tranh,đến khi trở về thì than ôi :
Ngày đi trăm hoa hẹn hò,
Ngày về vắng bóng con đò Thủ-Thiêm!


Từ Thủ-Thiêm chúng ta thẳng tiến đến một nơi gọi là Nhà Bè hay là Ngã Ba Sông Nhà Bè, nơi mà con sông Đồng Nai gặp con sông Saigon cũng gọi là sông Bến Nghé. Ngày xưa ở chỗ ấy ông Thủ khoa Hườn có lập nhà bè để bố thí lúa gạo cho những kẻ lỡ đường và ngày nay còn vọng lại mấy câu hò tình tứ của cô lái miền quê:
Nhà Bè nước chảy chia hai:
Ai về Gia định Đồng Nai thì về!


Rời Nhà Bè, chúng ta trở lại Saigon để đi về miền Bà Chiểu, một vùng ngoại ô trù mật ở phía đông, chúng ta phải đi qua một cái cầu gọi là Cầu Bông, vì xưa kia ở gần đó Tả Quân Lê Văn Duyệt có lập vườn hoa rất ngoạn mục. Bà Chiểu tỉnh lỵ Gia định, nổi tiếng về lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832), một vĩ nhân được người Việt và người Tàu tôn thờ như một vị thần thánh.

Theo Trương Vĩnh Ký thì Bà Chiểu là một trong 5 bà vợ của ông Lãnh Binh đã xây cái cầu ông Lãnh. Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 cái chợ, giao cho mỗi bà cai quản một cái: Bà Rịa (Phước Lễ), Bà Chỉểu (Gia-Định), Bà Hom (Phước Lâm), Bà Quẹo (phía Quán Tre) và Bà Điểm (phía Thụân Kiều). Riêng chợ Bà Điểm gần làng Tân Thới quê hương của Cụ Đồ Chiểu, tác giả Lục Vân Tiên, thi phẩm đầu giường của đồng bào Nam bộ là nơi bán trầu ngon có tiếng ở Miền Nam. Món trầu là đầu câu chuyện, cho nên bao nhiêu chuyện,hay dở gì cũng do miếng trầu trao cho nhau mà sinh ra cả :
Trồng trầu trồng lộn dây tiêu
Con theo hát bội mẹ liều con hư!


Từ Bà Chiểu chúng ta trở lại Saigon để rẽ về Phú Nhuận, qua Cầu Kiệu hay là Cầu Xóm Kiệu là nơi xưa kia trồng rất nhiều hành kiệu. Phú-Nhuận (giàu sang và thuần nhã) là nơi còn nhiều cổ tích như: Lăng Đô-đốc Võ Di Nguy, mất tại cửa bể Thị Nại năm 1801. Lăng Trương Tấn Bửu và lăng Võ Quốc Công tức là hậu quân Vũ Tính, nơi đây vua Gia-Long có cho trồng 4 cây thông đưa từ Huế vào để tỏ lòng mến tiếc. Võ Tánh là một trong Gia-Định tam hùng mà dân chúng nhắc tới trong những điệu hò giao duyên.Theo thường lệ :

Người con gái lên tiếng trước :
Nghe anh làu thông lịch sử,
Em xin hỏi thử đất Nam-Trung :
Hỏi ai Gia-Định tam hùng,
Mà ai trọn nghĩa thủy chung một lòng ?


Người con trai liền đáp lại :
Ông Tánh, Ông Nhân cùng Ông Huỳnh Đức,
Ba Ông hết sức phò nước một lòng
Nổi danh Gia-Định tam hùng:
Trọn nghĩa thủy chung có Ông Võ Tánh,
Tài cao sức mạnh, trọn nghĩa quyên sinh,
Bước lên lầu bát giác thiêu mình như không!


Về phía Tân Sơn hòa có Lăng Cha Cả là một cổ tích kiến trúc Việt Nam xưa nhất ở vùng Saigon. Nơi đây mai táng Đức Giám Mục Bá-Đa-Lộc, mất tại cửa Thị Nại năm 1799.
Rời khỏi ngoại ô Saigon chúng ta thuê một chiếc thuyền con về vùng Lái-Thiêu (tức là ông Lái gốm họ Huỳnh đã thiêu nhà vì say rượu) để thăm vườn trái :
Ghe anh Nhỏ mũi tráng lường
Ở trên Gia-Định xuống vườn thăm em.


Nơi đây quy tụ rất nhiều trái ngon đặc biệt như: dâu da, thơm, bòn bon, mít tố nữ, măng cụt và nhất là sầu riêng (durian) là giống cây từ Mã-Lai đưa vào Cây Sầu riêng thân cao lá ít, trái có gai bén nhọn kinh khủng, cho nên trời chỉ cho phép nó rụng khi đêm khuya thanh vắng mà thôi! Đồng bào Nam-bộ liệt nó vào hàng đầu trong các loài trái, vì nó có đủ năm mùi hương vị đặc biệt như quả lê Trung hoa. Những người xa lạ phải chịu nhẫn nại một thời gian mới thông cảm và khi đã thông cảm rồi thì thèm muốn như mê say, chỉ trừ anh học trò thi rớt:
Có anh thi rớt trở về
Bà con đón hỏi nhiều bề khó khăn
Sầu riêng anh chẳng buồn ăn,
Bòn bon, tố nữ anh quăng cùng đường!


Tại vùng Lái Thiêu, có một ngôi nhà thờ cổ kính xây từ thế kỷ XVIII trên ngọn đồi xinh tươi, chung quanh có nhiều lò gốm, lò sành và một trường dạy học cho trẻ em câm điếc với một phương pháp riêng biệt.
Đến Búng chúng ta không quên đi thăm chùa Phước Long ở vùng An-Sơn, có ông huề thượng thâm nho, thường ra nhiều câu đối bí hiểm cho những khách nhàn du :
Rượu áp sanh (absinthe) say chí tử

Có người đã đối lại như sau :
Bóng măng cụt mát nằm dài

Trong chùa ông huề thượng có ghi hai câu :
Cúng bình hoa, tụng pháp hoa, hoa khai kiến Phật.
Dâng nải quả, tu chánh quả, quả mãn thông Thần
(sưu tầm bài viết của ông Tân Việt Điêu trong Văn hóa nguyệt san số 33 năm 1958)

Tên gọi Saigon từ đâu?
Đây là một đề tài được các nhà nghiên cứu, học giả, Tây lẫn Ta, tốn rất nhiều thì giờ và công sức.
Cho đến nay thì có khoảng 5 giả thuyết về xuất xứ của chữ Sài Gòn, trong đó có 3 thuộc loại quan trọng hơn. Xin ghi lại 3 thuyết quan trọng hơn dưới đây:

Sài Gòn từ Thầy Ngòn (Đề Ngạn), Xi- Coón (Tây Cống):
Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 tay thực dân Pháp là Aubaret và Francis Garnier (người bị giặc Cờ Đen phục kích chết ). Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine và Garnier, Cholen, thì người Tàu ở miền Nam, sau khi bị Tây Sơn tàn sát, đã lập nên thành phố Chợ Lớn vào năm 1778 và đặt tên cho thành phố đó là Tai-ngon hay Ti-ngan. Sau dó, người Việt bắt chước gọi theo và phát âm thành Sài Gòn.
Thuyết này được hai học giả là Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Quả thật, trên phương diện ngữ âm, thì Thầy Ngòn, Xi Coón, rất giống Sài Gòn! Tuy nhiên, theo lịch sử thì không phải.

Tại sao? Vì lịch sử chứng minh rằng Saigon có trước, rồi người Tàu mới đọc theo và đọc trại ra thành Thầy Ngòn, Xi Coọn.
Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống Suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vở "Luỹ Sài Gòn"(theo Hán-Việt viết là "Sài Côn"). Đây là lần đầu tiên chữ Sài Gòn xuất hiện trong tài liệu sử sách Việt Nam . Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Nếu đọc theo Nôm là "Gòn", còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là "Côn".

Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Saigon! Thì làm gì phải đợi đến 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cổng.

Sài Gòn từ Củi Gòn, Cây Gòn, Prey Kor.

Thuyết này được Petrus Trương Vĩnh Ký đưa ra dựa theo sự "nghe nói" như sau:
"Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ; Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn . Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ở chùa Cây Mai và các vùng lân cận".
Pétrus-Trương Vĩnh Ký- Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, trong Excursions et Reconnaissance X. Saigon , Imprimerie Coloniale 1885.

Không biết tại sao mà sau này Louis Malleret và Vương Hồng Sển lại quả quyết thuyết này là "của" Trương Vĩnh Ký , mặc dù ngay sau đoạn này, TVK lại viết tiếp "Theo ý tôi, hình như tên đó là của người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tìm ra được nguồn gốc đích thực của tên đó".
Tương tự, có nhiều thuyết phụ theo nói rằng Sàigòn từ "Cây Gòn" (Kai Gon) hay "Rừng Gòn" (Prey Kor) mà ra.

Nói chung, các thuyết này đều dựa trên một đặc điểm chính: cây bông gòn.
Nhưng thuyết này phần lớn đã bị bác bỏ vì lý do đơn giản là không ai tìm được dấu tích của một thứ "rừng gòn" ở vùng Sàigòn, hay sự đắc dụng của củi gòn ở miền Nam, kể cả nhà bác học Trương Vĩnh Ký . Ngay vào thời của Trương Vĩnh Ký (1885) tức khoảng hơn 100 năm sau mà đã không còn dấu tích rõ ràng của thứ rừng này, mặc dù lúc đó Sàigòn không có phát triển hay thay đổi gì cho lắm. Ngay cả khi Louis Malleret khảo nghiệm lại, hình như cũng không có dấu vết gì của một rừng gòn ở Sàigòn.

Sài Gòn từ Prei Nokor
Đây là thuyết mà thoạt đầu khó có thể chấp nhận nhứt (về ngữ âm), nhưng hiện nay được coi như là "most likely".
Chính Petrus Trương Vĩnh Ký là người đưa ra thuyết này Trong Tiểu Giáo Trình Địa Lý Nam Kỳ, ông đã công bố 1 danh sách đôi chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokọr
Trước nhất, theo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623, một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua Cao Miên và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor (Saigon) và Kras Krabei của Cao Miên để đặt phòng thu thuế.
Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi Rai Gon Thong (Sài Gòn Thượng) và Rai Gon Hạ(Sài Gòn Hạ).

Đó là theo sử sách, còn theo tiếng nói thì Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là "thị trấn ở trong rừng", Prei hay Brai là rừng, Nokor hay Nagara là thị trấn. Đây là vùng mà chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế như đã nói ở trên.
Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành RAI, thành"Sài", Nokor bị bỏ "no" thành "kor", và từ "kor" thành "Gòn".

Từ Prei Nokor …mà thành SàiGòn thì thật là …dễ sợ !
Còn sở dĩ có Saigon viết dính nhau là do các giáo sĩ Tây phương đã bỏ mất dấu và gắn liền nhau khi in. Sau khi chiếm nước ta, để khỏi đọc "sai" ra "sê" theo giọng Pháp nên Saigon được viết với hai dấu chấm trên chữ i.
Saigon … muôn thuở là Sài gòn !

Ca dao tục ngữ Sài Gòn
Saigon là Hòn ngọc Viễn Đông, là một thành phố lớn nhất Việt Nam. Những nơi như Saigon được mệnh danh là Kẻ Chợ, đã là Kẻ Chợ ắt có chợ, mà phải là ngôi chợ lớn, khách Lục tỉnh lên thăm Saigon, ra vào chợ Saigon hẳn không quên. Chợ Saigon được đồng bào Hậu Giang so sánh với ngôi chợ tỉnh nhà:
Chợ Saigon cẩn đá,
Chợ Rạch Giá cẩn xi măng.
Giã em xứ sở vuông tròn,
Anh về xứ sở không còn ra vô
.

Người con gái ở đô thành tiêm nhiễm nếp sống Tây phương, chàng trai xa nàng khỏi sao thắc mắc, lo nàng ở lại chẳng vuông tròn nên phải ra vô, nàng vuông tròn chàng yên tâm về xứ sở.
Cúc mọc bờ ao kêu bằng cúc thủy,
Chợ Saigon xa, chợ Mỹ cũng xa.
Viết thư thăm hết mọi nhà,
Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em.


Saigon và Mỹ Tho, hai nơi cách nhau trên sáu chục cây số, nay tuy thật gần những xưa thật xa, vì phương tiện di chuyển đâu có dồi dào như nay, chàng và nàng dù đã yêu nhau, nhưng mỗi lúc tới thăm đâu có dễ dàng, đôi bên cùng bận làm ăn buôn bán, nàng ở chợ Saigon, chàng ở chợ Mỹ Tho. Nhớ nhung nhau, chỉ biết tin thư thăm hỏi, lấy giấy thay lời. Chàng yêu nàng vì duyên, vì tình, tình yêu chân thật, đâu thấy nàng giàu mà ham hoặc thấy nàng nghèo mà chê.
Chợ Saigon đèn xanh, đèn đỏ,
Anh coi không tỏ, anh ngỡ đèn tàu.
Lấy anh em đâu kể sang giàu,
Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em.


Chợ Saigon với những hàng quảng cáo đèn màu xanh đỏ, chàng trai quê lên nhầm lẫn đó là đèn tàu. Sự lầm lẫn thị giác này có thể có được, nhưng lầm về yêu đương, chàng đâu có lầm. Chàng lấy nàng đâu có kể sang giàu, vì tiền tài bao nhiêu cũng có thể hết, duy tình nghĩa mới bền lâu, như người xưa đã nói:
Theo vàng bỏ ngãi ai hơi,
Vàng thời đã hết, ngãi tôi vẫn còn
.

Chính vì nghĩa mới bền lâu, nên khi xa người nghĩa, người con trai đứng ngồi không yên:
Chim quyên xuống đất tha mồi,
Tôi xa người nghĩa đứng ngồi không yên!
Giấy tây bán mấy,
Mua lấy tờ nguyên,
Làm thơ hỏi bạn tình duyên chuyện gì?


Mến thương nàng, đem nàng so sánh với các nàng Lục tỉnh, cô gái Saigon thật hơn:
Nội trong lục tỉnh Nam kỳ,
Mấy ai được nết nhu mì như em.
Hai hàng lụy ngọc ướt nhèm,
Làm sao cho đặng anh với em giao hòa
.

Sự ước vọng, lòng mong mỏi của chàng là được cùng nàng giao hòa!
Chợ Saigon ngày nay ta vẫn gọi là chợ Bến Thành, nhưng Bến Thành trước đây là bến tàu và hàng ngày thường 10 giờ thì tàu đến bến này:
Mười giờ tàu lại Bến Thành,
Súp lê còi thổi bộ hành lao xao
.

Sao lại mệnh danh Bến Thành? Phải chăng đây là bến của đô thành Saigon hay của Gia Định thành? Còn khách bộ hành lao xao vì muốn ngắm tàu Tây.
Anh ngồi quạt quán Bến Thành,
Nghe em có chốn anh đành quăng om!
Anh ngồi quạt quán Bà Hom,
Hành khách chẳng có, đá om quăng lò.


Chàng trai ngồi quạt quán ở Bến Thành với bình trà Huế, được tin người mình thương đã có nơi chốn, chàng tỏ buồn rầu quẳng cả bình trà đi! Kể cũng đáng buồn, tưởng được cùng người thương thưởng thức bình trà (om) ngon, ngờ đâu nàng là hoa có chủ, chàng đành ôm hận, trút mối giận vào om, cái bình trà vô tội.

Nhắc đến Bến Thành, quên sao được thành Tây:
Dân đất Bắc,
Đắp thành Tây.
Đông thật là đông,
Sầu Nam vời vợi.


Câu này gồm đủ đông, tây, nam, bắc! Dân đất Bắc phải chăng những người dân miền Bắc bị đưa vào Nam làm dân phu, đắp thành cho người Tây? Số dân phu ắt nhiều lắm, Đông thật là đông. Sự đông đúc này quả là một mối sầu vời vợi cho nước Nam, cho dân Nam! Nước mất nhà tan, thân làm nô lệ, phải đi đắp thành cực khổ cho Tây để chúng dựa vào thành trì đô hộ đồng bào mình. Người miền Bắc bị đi dân phu hằng than thở:
Nhà tan nước mất ai ơi,
Cái thân nô lệ sống đời cu ly!


Người dân than thân như vậy, nhưng vẫn có bọn mũ cao áo dài hà hiếp dân để nịnh bợ quân thù! Thật đau đớn nhưng những kẻ mãi quốc cầu vinh, cõng rắn cắn gà nhà, có bao giờ chúng nghĩ đến Sầu Nam vời vợi. Và trong khi sống đời cu ly đi đắp thành Tây, đã biết bao nhiêu người bỏ thây cùng công việc, ngày xưa đâu đã có máy móc, kỹ thuật xây dựng đắp hoàn toàn công ở sức người.
Đắp thành Tây rồi xây soái phủ cho Tây, người dân Nam trong cảnh căm hờn muốn nói không ra, đành gởi tâm tình vào ca dao tục ngữ:
Trên thượng thơ bán giấy
Dưới Thủ Ngữ treo cờ.
Kìa Ba còn đứng trơ vơ!
Nào khi núp bụi, núp bờ,
Mũi Di đánh dạo bây giờ bỏ em.


Thượng thơ, xưa chính là soái phủ miền Nam ở góc đường Tự Do và Gia Long ngày nay. Nơi ấy có bán ấn chỉ cho dân, trong Nam quen gọi là bán giấy. Thủ Ngữ là nơi thủy quân Pháp đóng, cọ dựng cột cờ. Con người ái quốc trông hai nơi này căm gan sôi ruột! Ai đã khéo đạt ra cau ca dao trên để kích thích lòng căm hờn của người dân Việt, đã nhắc đến tượng Gambotta ở vườn Tao Đàn, gọi một cách nhục nhã là Ba Tượng một người Pháp gọi là Ba, ai là dân Việt ắt thấy nhục vong quốc này. Nếu câu ca dao chỉ có ba dòng đầu có thể gợi sự nghi ngờ của người Pháp, bởi vậy phải thêm hai hàng sau gắn vào, mượn lời tình nhân oán trách tình nhân che dấu ý kín của câu hát. Tuy đây là lời tình nhân oán trách tình nhân, nhưng cũng là lời đồng chí oán trách đồng chí, đã cùng nhau núp bụi ngồi bờ, đã cùng nhau đánh dạo ở mũi Di, vậy mà quên nhau, về đầu thú người Pháp để cầu công danh phú quý.
Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, đậng một anh lính khác, chẳng khác chi các nàng Giao chỉ sau này trong thập niên 60 cho đến năm 1975 sánh duyên cùng các chú lính Mẽo:
Saigon mũi đỏ,
Gia Định súp lê.
Giã hiền thê ở lại lấy chồng,
Thuyền anh ra cửa bể như rồng lên mây.


Thuyền, tàu Saigon hồi đó sơn mũi đỏ để phân biệt với thuyền tàu lục tỉnh, như vậy thực dân tiện bề kiểm soát.
Thuyền anh ra cửa bể như rồng lên mây, câu này muốn nói khi anh lính Tây đã ra cửa bể rồi, anh tha hồ được tự do, đến bến mới anh tha hồ kết duyên cùng người mới.
Về các cuộc hôn nhân Việt Pháp, lúc tiễn đưa, chúng tôi đã từng nhắc tới một câu trong ca dao hôn nhân dị chủng, xin phép được nhắc lại như sau:
Còi súp lê một anh còn than thở,
Còi súp lê hai anh nức nở vắn dài.
Còi súp lê ba, tàu ra biển Bắc,
Nước mắt anh nhỏ ra, anh rút mù xoa anh chậm,
Tình nghĩa vợ chồng ngàn dặm không quên.


Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây? Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.

Saigon nơi có đô hội lớn, phố xá rộng rãi, cây cao và rậm mát:
Đường Saigon cây to bóng mát,
Đường Chợ Lớn hạt cát nhỏ dễ đi
.

Đường Saigon có đúng cây to bóng mát, còn đường Chợ Lớn có lẽ trước đây với đất phù sa của đồng bằng Cửu Long, cát nhỏ dễ đi chăng! Dưới thời Pháp thuộc, đường Saigon cũng như đường Chợ Lớn đều đã rải đá và sau này tráng nhựa... Ngày nay, với thời gian đường đã hư hỏng dù rải đá hay tráng nhựa, mà chính quyền có ít chú ý tới sửa chữa, nên có thể có người than:
Đường Saigon ổ gà đi xóc,
Đường Chợ Lớn đi xóc ổ gà.


Ca dao Saigon có những câu rất ngộ nghĩnh, nhắc tới địa danh một cách khéo léo:
Chị Hươu đi chợ Đồng Nai,
Bước qua Bến Nghé ngồi nhai thịt bò.


Trong bài này chúng ta bắt gặp bốn con vật ăn cỏ là Hươu, Nai, Nghé, Bò với hai địa danh là Đồng Nai, Bến Nghé.

Dưới đây là câu ca dao nhắc tới các chợ khác ngoài chợ Bến Thành:
Mẹ đi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau chợ Vải, mua trầu chợ Dinh.
Sáng mai đi chợ Gò Vấp,
Anh mua một xấp vải đem về.
Cho con hai nó cắt, con ba nó may,
Con tư nó đột, con năm nó viền.
Con sáu đơm nút, con bảy vắt khuy;
Anh bước ra đi,
Con tám núi, con chín trì,
Ớ em mười ơi!
Sao em để vậy còn gì áo anh?

Ca dao Saigon hẳn phải còn nhiều, biết tới đâu xin tỏ tường tới đó, những điều chưa biết xin nhờ sự chỉ giáo của người biết.
(Trích tác phẩm "Hương Nước Hồn Quê" – Toan Ánh )

Đầu tiên được nói đến Bà Nghè, tên gọi hồi trước của con rạch Thị Nghè quận 1 sát bên Sở thú Sài Gòn. Trong Gia Định phú do Phan Văn Thị sáng tác có câu ví ngộ nghĩnh.
Coi ngoài rạch Bà Nghè, dòng trắng hây hây tờ quyến trải,
Ngó lên giồng Ông Tố, cây xanh nghịt nghịt, lá chàm rai.


Tôi chịu thua, tìm cả trong tự điển cây "chàm rai" là cây gì, mà lá nó xanh dữ vậy.
Nội ô Sài Gòn còn có một bà cũng nổi tiếng đó là Bà Chiểu, nằm trên địa bàn phường 1, 2 và 14 thuộc quận Bình Thạnh. Khu vực này có cái chợ cùng tên Bà Chiểu tấp nập ngày đêm, chủ yếu là bán lẻ. Có câu ca dao, nghe cũng vui tai:
Xe mui chiều thả chung quanh
Đôi vòng Bà Chiểu thích tình dạo chơi.


Có lẽ nổi tiếng nhất trong các bà là Bà Điểm. Tương truyền bà Điểm là một chủ quán nước chè vùng Tân Thới Nhứt, Hóc Môn, có 18 thôn vườn trầu, nơi đây Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định từng hoạt động (khoảng năm 1861).
Nói cho ngay, người Sài Gòn xưa hay đặt cho con rạch, chiếc cầu, một địa danh, một con đường, con hẻm một cái tên (hoặc bà hoặc ông) trước là dễ nhớ, sau là ghi lại công tích của người đó góp cho dân trong vùng; thứ nữa nhìn hình vóc của khu vực đó mà đặt.
Thí dụ: Bà Quẹo, là khu vực gồm các phường 13, 14 quận Tân Bình. Ai đi trên đường lên Tây Ninh, vọt thẳng biên giới với Cam-pu-chia, có một ngã ba, nếu nhà ở hướng lộ 14 thì quẹo trái (rẽ) vào.
Hay Bà Đô, là con rạch ở phường 1, quận 5, thông từ các ao, đầm ra rạch Bến Nghé, nay bị lấp rồi. Bà Đô còn là tên chiếc cầu ở đầu đường Hàm Tử bắc qua rạch Bà Đô (còn gọi là Thị Đô). Dân chèo ghe ở Sài Gòn hồi trước, qua đây hay hát:
Kể từ chợ Sỏi trở vô
Xóm Lá là chợ, Thị Đô là cầu.


Hay như Bà Thuông, tên chiếc cầu trên kênh Tàu Hũ, từ đầu đường Tản Đà đến đầu đường Phú Định. Trong Gia Định phú có câu ví rất hay:
Giếng Bà Nhuận rạch cam tuyền, trai gái nhảy thỏa tình khát vọng
Cầu Bà Thuông đường quan lộ gần xa đều phỉ chí quy lai.

Tên cầu, tên rạch, tên khu vực nào đó có từ Bà rất nhiều. Như: rạch Bà Bướm có tên từ 1902 ở phường Tân Thuận Đông, quận 7 chảy vào sông Sài Gòn, nay nằm trong khu chế xuất Tân Thuận. Sông Bà Cả Bảy chảy qua hai xã Trung Lập Thượng và Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi dài 15 km từ ranh giới với Tây Ninh đến sông Láng Thé. Bà Hom vừa là khu vực phường 13, 14, quận 6 giáp ranh với Tân Bình và Bình Chánh, vừa là chiếc kênh ở xã Tân Tạo. Bà Tàng,vừa là các rạch ở phường 7, quận 8, cũng là tên chiếc cầu bắc qua rạch Lào trên đường Phạm Thế Hiển. Rồi Bà Tà, Bà Lài, Bà Hồng, Bà Lát, Bà Nghiêm, Bà Chủ, Bà Tàng, Bà Thiên, Bà Tiếng, Bà Xếp... cũng là cầu, là rạch, là tên riêng vùng đất. Như tên Bà Khắc là chiếc cầu xưa ở vùng Cầu Kho quận 1. Khắc trong tiếng Nam Bộ còn gọi là Khấc, để cầu khỏi trơn trợt.

Trong bài Cổ Gia Định phong cảnh vịnh có câu:
Trên cây Da Còm, nỡ để ông già gùi đội
Dưới đường Cầu Khắc, chi cho con trẻ lạc loài.


Chiếc cầu Bà Khắc (hay Khấc) này thời nay không còn nữa. Nhiều tên đường cũng tên bà, như đường Bà Huyện Thanh Quan trên địa bàn phường 6, 7, 9 quận 3, hồi Pháp có tên là Rue Nouvelle, đến năm 1920 đổi thành Pierre Fladin. Năm 1955 mới có tên Bà Huyện Thanh Quan đến ngày nay. Bà Ký là đường trên địa bàn phường 9, quận 6. Bà Lài là đường nối từ đường Phạm Văn Chí với Lò Gốm, nay tên đường mới là Đặng Thái Thân. Bà Lê Chân ở Tân Định. Năm 1906 có tên là Frostin. Đến 19-10-1955 đổi lại thành đường Bà Lê Chân. Bà Triệu nằm sau Bệnh viện Chợ Rẫy, thời Pháp có tên là Merlande. Năm 1955 mới đổi thành Bà Triệu... Chắc là còn nhiều "bà" nữa mà người viết chưa có vinh hạnh làm quen xin mọi người tìm thêm nữa.

Cũng lạ, khi đặt tên cho cái rạch, con sông, chiếc cầu, hay địa danh một vùng đất gắn với một bà nào đó, thì có cả ca dao, câu hát, câu ví dí dỏm. Nhưng, với cánh đàn ông thì thiệt là khô khan, chả thơ phú, câu vè, câu đố nào. Dù sao, có bà thì phải có ông, bởi thiếu ông nghe như trống trải trong lòng vậy.

Ở Sài Gòn địa danh mang tên năm ông sau đây, cứ nhắc tới thì cả nam, phụ, lão, ấu ai cũng rành.
Đầu sổ là Ông Lãnh. Gắn liền với Ông Lãnh là chiếc cầu. Dạ, Cầu Ông Lãnh, rồi chợ Cầu Ông Lãnh, và phường Cầu Ông Lãnh (Nói nhỏ: chỗ này hồi trước bụi đời dữ lắm nghen, nay thì đỡ nhiều rồi). Đúng là có cầu, có chợ, có phường 100%, nhưng thử hỏi cắc cớ: vậy Ông Lãnh là ai vậy, thưa bà con, thì nghe chừng ngắc ngứ lắm! Có giả thuyết cầu này do ông Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng (1798 - 1866) đóng quân ở đồn Cây Mai, Thủ Thiêm và tại đình Nhơn Hòa, quận 1 gần chiếc cầu. Vả lại,năm 1885, Trương Vĩnh Ký có viết rằng chiếc cầu gỗ do ông lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh binh Thăng này, chớ không phải ai khác. Cũng có người bảo, cầu này ở cạnh một ông lãnh sự, nên đặt chết tên luôn. Nghe chừng chuyện này không thuyết phục mấy.

Hai là Ông Thượng. Người Sài Gòn trọng tuổi một chút nghe đến vườn Ông Thượng thì biết ngay là Công viên Tao Đàn thuộc quận 1 bây giờ. Chớ hỏi bọn trẻ,chưa chắc hiểu vườn Ông Thượng ở đâu. Vả lại, Ông Thượng là tên dân gian gọi tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt những thập niên 20 và 30 của thế kỷ 19. Nghe nói, vườn Ông Thượng hồi đó hay có gánh hát đến biểu diễn, cả cải lương lẫn hát bội, và Nguyễn Đình Chiểu hồi nhỏ cũng hay đến đây coi tuồng hát bội.

Ba là Ông Tố. Giồng Ông Tố , hồi năm nẳm, ở vùng này còn nhiều cọp beo và nhiều ve lắm, nên có câu:
Coi cọp, xuống Thị Nghè
Ăn ve, lên Ông Tố
.

Ve mà nướng lên ăn cũng thơm như cào cào, châu chấu vậy. Không rõ ông Trương Vĩnh Tố có làm quan chức gì, chỉ biết ông ở gần đấy và khu đất cao (gọi là giồng) có lẽ là của ông chăng?

Bốn là Ông Tạ. Là chợ mang tên một thầy thuốc nam nổi tiếng Trần Văn Bỉ (còn gọi là Tạ Thủ). Chợ Ông Tạ còn là vùng đất thuộc các phường 3, 4, 5, 7 của quận Tân Bình. Nói thêm: Dân ghiền thịt chó nghe đến chợ Ông Tạ là gợi ngay đến các hàng thịt chó treo lủng lẳng cả chục con thui vàng rực, coi bắt mắt lắm.

Năm là Ông Thìn. Cầu Ông Thìn bắc qua sông Cần Giuộc, nối hai xã Đa Phước và Quy Đức, huyện Bình Chánh trên tỉnh lộ 50. Dân gian truyền rằng Ông Thìn là tên người lái đò đưa khách sang sông. Cầu Ông Thìn được bắc dã chiến năm 1925, nay đã nâng thành cầu đúc dài 162 m.

Có cái tên ông rất nổi tiếng ở Sài Gòn này. Đó là Lăng Ông (dân thường gọi là Lăng Ông Bà Chiểu). Đây là lăng của Tả quân Lê Văn Duyệt, được xây trên khuôn viên khá rộng 18.500 m2. Nghe rằng tác giả công trình này về sau xây lăng Tự Đức ở Huế. Ngày 16-11-1988, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Lăng Ông là di tích kiến trúc nghệ thuật. ở lăng có bốn cột gỗ chạm rồng rất đẹp ở chánh điện. Cổng tam quan có cây thốt nốt tạo vẻ trang nghiêm, tĩnh mịch.

Ở Sài Gòn, còn có Chùa Ông là chùa thờ Quan Công (Quan Vân Trường) tại xã Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Đức.
Tên đường chỉ duy nhất có Ông Ích Khiêm. Gắn với tên ông còn có rạch, cầu Ông Buông ở quận 6 (dài độ 2.800 m từ ngả ba rạch bến Trâu và Tân Hóa tới rạch Lò Gốm); rạch Ông Cái ở quận 2, rạch Ông Cốm, Ông Đồ ở Tân Túc, Bình Chánh, rạch Ông Điền từ đất Cần Giuộc đổ vào sông Nhà Bè, rạch Ông Đội ở quận 7, rạch Ông Mưu ở Bình Chánh; rạch Ông Nghĩa ở xã An Thới Đông, Cần Giờ từ rừng lá đến sông Lòng Tàu.
Có cầu Ông Lớn bắc qua kinh Tàu Hủ; cầu Ông Nhiêu, cầu Ông Thìn, cầu Ông Tiều... Rồi đập Ông Hiền ở xã Bình Hưng dài đến ba cây số.
Về vài địa danh mang tên thảo mộc.
Ở Việt Nam có rất nhiều địa danh mang tên thảo mộc. Trong khuôn khổ bài viết nầy chúng tôi chỉ đề cập đến Gò Vấp, Củ Chi, Trảng Bàng, Giồng Trôm, Thốt Nốt và Bạc Liêu mà thôi.
GÒ VẤP
Trước năm 1975 Gò Vấp là một quận của tỉnh Gia Định gồm có 8 xã. Quận lỵ Gò Vấp cách Sài Gòn 10km. Đó là nơi có nhiều thành quách (An Nhơn, Hạnh Thông Tây), vườn rau cải (Hạnh Thông Tây), ruộng rau muống (Xóm Mới), vườn dừa (An Phú Đông, Bình Triệu), vườn sầu riêng, măng cụt (Nhị Bình), vườn bưởi (Thạnh Lộc) với hai xã đông dân cư và phồn thịnh về kinh tế và thương mại gần Sài Gòn: Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây.
Sau năm 1975 Gò Vấp là một quận trong thành phố. Diện tích Gò Vấp bấy giờ thu hẹp chỉ còn 20 km2. Các xã Bình Hòa, Thạnh Mỹ Tây trở thành quận Bình Thạnh, Nhị Bình, Thạnh Lộc, An Phú Đông sát nhập vào quận Hóc Môn.
Gò Vấp là quận đông dân cư. Đó là nơi có nhiều giáo đường và chùa chiền. Viện Mồ Côi và bịnh viện Cộng Hòa nằm trong quận nầy. Sau năm 1954 Gò Vấp nổi tiếng về việc sản xuất pháo (Xóm Mới).
Địa danh Gò Vấp do tên của cây vấp mà ra. Tên khoa học của cây vấp là Mesua coromandelina, Mesua ferrea, Mesua nagassanium... thuộc gia đình Clusiaceae hay Guttiferae. Loại thảo mộc nầy có nhiều ở Ấn Độ, Sri Lanka và các quốc gia Đông Nam Á. Người Ấn Độ gọi là nagkesa; tiếng Phạn (Sanskrit): nagakesara; Khmer: bos neak. Người Anh gọi là cobra saffron vì theo tiếng Phạn naga có nghĩa là con rắn và chữ saffron gợi lên màu vàng của cây vấp. Tiếng anh cũng gọi cây vấp là iron wood tree hay Ceylon ironwood (thiết mộc Tích Lan).
Cây vấp cao từ 15 - 20m. Gỗ màu vàng rất cứng, ngâm duới nước không bị rã mục. Lá cây vấp nhọn, thon, dài trông rất đẹp. Lá non màu đỏ bầm. Hoa to, màu trắng bốn cánh với nhụy vàng. Hoa có hương thơm. Trái có hột dùng để lấy dầu.
Gỗ cây vấp dùng để làm nhà, ngạch đường rầy xe lửa rất tốt. Dầu lấy từ hột cây vấp dùng để thắp đèn. Cây vấp là quốc mộc ở Sri Lanka (đảo Ceylon: Tích Lan), nơi cây vấp được gọi là nahar.
Người ta dùng hoa, rễ và hột cây vấp để làm thuốc trị bịnh. Hoa được dùng để trị táo bón, đau bụng, phong hủi, ho, sốt, bất lực sinh lý. Dầu dùng để trị các chứng bệnh ngoài da, trị ghẻ, tê thấp. Dầu cây vấp có nhiều ác xít béo: ác xít stearic. oleic, linoleic và arachidic. Hoa khô dùng để trị bịnh trĩ, kiết lỵ. Hoa tươi trị ngứa, kinh nguyệt, khát nước quá độ (tiêu khát; tiểu đường), ra mồ hôi. Rễ dùng để trị rắn cắn. Lõi cây vấp có nhiều xanthones: euxanthones, mesuaxanthones A, mesuaferrone B. Nhụy hoa có hai bioflavonoids: mesuaferrone A và mesuaferrone B và ác xít mesuanic. Vỏ có ferruol B và triterpenoid gutiferol.

CỦ CHI
Trước năm 1954 Củ Chi là một quận trong tỉnh Gia Định. Sau năm 1954 quận nầy nằm trong tỉnh Bình Dương một thời gian ngắn. Khi tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập, Củ Chi nằm trong tỉnh tân lập nầy. Trước năm 1975 Củ Chi có 14 xã.
Sau năm 1975 Củ Chi là một quận ngoại thành của thành phố. Quận Củ Chi nằm cách Sài Gòn 40 km. Diện tích quận Củ Chi lối 435 km2. Đa số dân đều sống bằng nghề nông và đan thúng rổ, làm vật dụng bằng mây. Củ Chi được biết đến nhiều trong chiến tranh vừa qua. Vùng nầy nằm trong vùng Tam Giác Sắt. Bộ tư lệnh Sư Đoàn 25 đóng tại đây. Sau năm 1975 tân chế độ gọi Củ Chi là Đất Thép Thành Đồng và biến Địa Đạo Củ Chi thành vùng du lịch.
Củ Chi là sinh quán của Trần Minh Tiết, Chánh Án Tối Cao Pháp Viện VNCH; Phan Văn Khải, cựu thủ tướng CHXHCNVN.
Địa danh Củ Chi phát xuất từ tên gọi của cây củ chi tức mã tiền. Cây củ chi hay mã tiền được tìm thấy nhiều ở Nam Á và Đông Nam Á. Tên khoa học của nó là Strychnos nux-vomica thuộc gia đình Loganiaceae. Người Anh gọi là poison nut (vì độc chất của mã tiền), quaker buttons, snake-wood, nux-vomica, strychnine tree. Người Ấn Độ có nhiều kinh nghiệm về việc dùng mã tiền (củ chi) làm thuốc. Họ gọi mã tiền (củ chi) là kuchala. Người Trung Hoa gọi là ma qian zi.
Cây củ chi cao đến 25 m. Lá bầu như trầu. Trên lá có nhiều gân lá song song với rìa lá. Hoa nhỏ màu trắng ngà kết thành chùm. Trái tròn màu vàng cam khi chín. Gỗ trắng và cứng.
Củ chi nổi tiếng vì độc chất của nó. Nhưng độc chất đó cũng được nghiên cứu kỹ lưởng để dùng vào việc chữa trị bệnh. Nó có alkaloid strychnine rất độc. Vỏ có brucine và nhiều hợp chất độc khác. Nói chung cây củ chi có nhiều độc chất. Nhưng dùng ở liều lượng đúng, nó trở thành thuốc trị đau bụng, gây nôn, táo bón, mất ngủ, bịnh tim, thần kinh, tinh thần hồi hộp bất an, kinh nguyệt không điều hòa, bịnh hô hấp của người già, viêm vành tai ngoài gây ngứa ngáy khó chịu.
Trong y học dân gian người ta xem mã tiền như thuốc bổ tạo sự thèm ăn. Hiện nay ở Trung Hoa người ta nghiên cứu xem củ chi có thể dùng vào việc chữa trị ung thư gan hữu hiệu hay không.

TRẢNG BÀNG
Tràng Bàng là một quận trong tỉnh Tây Ninh gồm có 7 xã. Quận nầy nằm cách Sài Gòn 50 km về phía tây bắc. Quận Trảng Bàng rộng lối 340 km2. Trảng Bàng nổi tiếng với bánh canh giò heo ăn với bánh tráng phơi sương (không cần nhúng nước), rau rừng và nước mắm pha chế đặc biệt của người miền đông Nam Bộ. Năm 1972 một bức ảnh chụp một em bé trần truồng chạy ngoài quốc lộ ở Trảng Bàng sau một cuộc dội bom napalm trong một làng trong quận Trảng Bàng được giải thưởng Putlitzer.
Trảng Bàng là sinh quán của giáo sư Nguyễn Ngọc An, người sáng lập hai trường Minh Đức (Trảng Bàng) và Tân Dân (Hóc Môn). có một thời ông là tổng trưởng bộ Thông Tin và Chiêu Hồi.
Theo từ nguyên thì Trảng (savanna) là một vùng đất trống có nhiều cỏ và cây cùng một loại mọc lưa thưa. Bàng là cây bàng, một loại thảo mộc được tìm thấy nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á, Nam Hoa, các hải đảo Thái Bình Dương và biển Caribbean.
Tên khoa học của cây bàng là Terminalia molucca (còn nhiều tên khác) thuộc gia đình Combretaceae. Chữ molucca trong tên khoa học cho thấy nguồn gốc Molucca, Indonesia, của loại thảo mộc nầy hay ít ra nó cũng có nhiều trên đảo nầy. Người Anh gọi cây bàng là umbrella tree (vì bóng mát rộng lớn của nó), tropical almond (hạnh nhiệt đới) như người Tây Ban Nha gọi almondro de la India (hạnh Ấn Độ) Người Miến Điện gọi là badan và Khmer là pareang prang.
Cây bàng cao đến 25 m, có nhiều nhánh nên cho bóng mát rộng lớn. Lá bàng to, dày và láng. Vào mùa thu lá chuyển sang màu vàng rồi đỏ rất đẹp trước khi rụng. Trái bàng khá to, cơm dày ăn được. Hột có nhiều dầu và có mùi dễ chịu. Hột được ăn sống hay rang chín. Lá hay hoa cây bàng đều đẹp. Lá tươi hay khô đều được dùng làm thuốc nhuộm. Màu xanh chuyển sang màu vàng khi cho phèn chua và sulfate sắt vào. Gỗ cây bàng rất cứng và đẹp. Nó được dùng để cất nhà hay làm đồ mộc. Trồng cây bàng để có bóng mát, có nhiều gỗ, thanh lọc không khí, chống xâm thực ngoài bờ biển và tạo phong cảnh đẹp.
Lá, gỗ, vỏ, hột cây bàng đều được dùng làm thuốc. Sự dồi dào tannins của lá, vỏ làm cho cây bàng hữu dụng trong việc trị chứng tiêu chảy, kiết lỵ và đau nhức. Hột được dùng làm thuốc trị huyết tiện (hematuria). Ở Ấn Độ người ta dùng lá bàng trị tê thấp. Kết hợp với thuốc xức để trị ghẻ, phong hủi và các chứng bịnh về da.
Trái bàng có ác xít tannic. Tannin của lá và vỏ cây bàng có punicalag.
6/1/2016 7:46:47 PM
Topic:
Đặc biệt sưu tầm

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Bổ túc thêm :
=======================================
Câu ca : Mụt ruồi nơi cổ cả lổ tiền chôn .
========================================
Nốt ruồi dưới gót chân – gặp nhiều phiền toái: Dưới gót chân có nốt ruồi, đặc biệt là nốt ruồi đen thì bạn nên cẩn thận, vì nốt ruồi này cảnh báo cuộc sống của bạn gặp rất nhiều phiền toái, làm việc hết mình hết sức nhưng kết quả thu được ít hoặc không được người khác công nhận, chuyện tình cảm cũng không khá hơn, cố gắng nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu. Nếu là nữ giới thì có thể chọn màu sơn móng chân phù hợp với bản mệnh, còn với nam giới thì có thể xóa nó đi, ít nhiều vận trình sẽ được cải thiện. Ngoài ra, nếu bạn thường xuyên đi tất thì ảnh hưởng của nốt ruồi cũng giảm đi đáng kể.


5 not ruoi hiem doc huy hoai van the ca mot doi-Hinh-3
Nốt ruồi phía sau gáy nhưng lệch về 2 bên – tình cảm trắc trở: Người có nốt ruồi ở vị trí này thường gặp vấn đề trong chuyện tình cảm, có thể là dối tình người khác hoặc bị người khác lừa gạt. Nốt ruồi ở vị trí này có nhiều tiền đến đâu cũng không thể xóa đi được, nếu không chuyện hôn nhân cả đời cũng sẽ không thuận. Cách tốt nhất để hóa giải là căn cứ vào ngũ hành của bản mệnh mà chọn màu nội y cho phù hợp.
4/30/2016 1:32:20 PM
Topic:
Đặc biệt sưu tầm

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Chân tướng những nốt ruồi.

1) giữa trán có nốt ruồi ,khắc cha mẹ.Đàn bà có nốt ruồi này ưa hiếp chồng.
2)Nốt ruồi giữa trán khoảng chính giữa một phần ba của trán ,từ mắt trở lên : giỏi mua bán khó thoát cảnh hai đời chồng .
3) nốt ruồi nằm ở Ấn đường giữa hai chân mày :có tánh cương cường như đàn ông.
4) Nốt ruồi nằm tại sơn căn gặp nhiều bất trắc.
5) nốt ruồi nằm trên sóng mũi : dễ sanh tật bệnh
6)Nốt ruồi nằm ngay đầu mũi (chuẩn đầu ):Tài lộc tốt.
7)Nốt ruồi tại Nhân Trung (ngay đường ranh dưới mũi) Nằm phía trên vận hạn tốt, có nhiều con trai.Nằm phía dưới có nhiều con gái.Nằm giữa Nhân Trung có hai nốt ruồi này ắt có song sinh,giữa nhân trung có một nốt ruồi nuôi con khó,vất vả vì con, con hay bệnh.Nốt ruồi nằm trên Nhân Trung phẳng lì: cùng khổ cô đơn
8)Nốt ruồi nằm ở môi trên: hay ăn vặt, có lộc ăn sức khỏe tốt
9)Nốt ruồi nằm môi dưới phun phí tiền bạc
10)Nốt ruồi nằm giữa hai bên môi: thường gây họa vì lời ăn tiếng nói của mình.Trên lưỡi có nốt ruồi đa ngôn khéo biện luận
11) Nốt ruồi mọc tại giữa cầm:Khắc kỵ chồng con
12)Nốt rùôi mọc tại mép:Hay dời đổi chổ ở
13)Nốt rùôi mọc gần má(hai mang tai trở xuống) khắc người dưới tay.
14)Nốt ruồi mọc nơi cánh mũi: sự nghiệp hanh thông
15)Nốt ruồi mọc cạnh sống mũi:Tài vận tốt
16)Nốt ruồi dưới mi ( dưới mắt khỏang giữa) : vượng về con cái
17)Nốt ruồi mọc dưới lông nheo: Dục tình mạnh.
18)Nốt ruồi ngay dưới đuôi mắt : có số nhờ người ngoài
19)Nốt ruồi mọc trong con mắt : may mắn về duyên số.
20)Nốt ruồi ngay giữa chân mày (nếu cả hai bên):giao tế gỉỏi.
21)Nốt ruồi mọc chính giữa chân mày : nổi tiếng về văn , nghệ thuật.
Mọc chìm ( tử chí ) :gặp họa do người khác gây ra.
22)Nốt ruồi ở đuôi mắt ( cả hai bên) : có số gìau sang sớm, tới trung niên.
23)Nốt ruồi mọc trên lưỡng quyền :Có khả năng ứng biến trứơc nghịch cảnh.
25)nốt ruồi mọc sát mang tai từ vành trên đỉnh với xương má thông minh trường thọ
NỐT RUỒI Ở TRÊN MẶT
1-Nốt ruồi ở trán: phú quí
2-Trên dỉnh đầu: có uy quyền trong xã hội
3-Hai bên tai: gặp tai hoạ
4-Ngoài lông mày bên trái: tốt
5-Trên sống mũi: khắc con
6-Bên trái mép miệng : bần tiện (Câu ca : Mụt ruồi nơi mép ăn thép cả làng - Mụt ruồi màng tang cả làng ăn thép là nuôi cả làng).
7-Sát mép miệng : có tài ăn nói .
8-Trên trán bên trái gần tóc: có nhiều đời chồng
9-Đuôi miệng bên trái nhưng nằm sát miệng: khẩu thiệt, thị phi, bần tiện
10-Trong môi trên bên trái: sát con, hoặc hoạ ách
11-Trên miệng bên phải ngay lỗ mũi: bần tiện
12-Trên lông mày phía chót của lông mày: hưởng lộc hoặc có chồng sang
13-Ngay nhân trung: sanh con đôi
14-Gần nhân trung: đông con
15-Trong con mắt bên trái: hại chồng
16-Giữa cằm: không tốt, không hùn hạp với ai được
17Đưới mắt trái ngay dưới: chồng chết sớm, nếu dàn ông có thì khóc con
18-Nằn ở tai phải: có hiếu
19. Dưới cằm bên trái gần giữa: sẽ có của
20-Cánh mũi bên trái: bần tiện
21Đưới mí mắt bên trái màu trắng: hoạ ách
22-Trên môi bên trái: khẩu thiệt
23-Gần nhân trung bên trái: sống lâu
24-Gần tóc mai bên trái chỗ tai màu nâu: không nên đi xa
25-Mắt đi ra gần tay trái, trên mắt: hại chồng

NỐT RUỒI TRÊN THÂN THỂ
1-Nằm ở eo bên hông phải: thông minh
2-Sau dầu chỗ gáy gần đường mương: thuận lợi khi giao tiếp với bên ngoài
3-Hai bên vai màu hồng: hậu vận phát đạt
4Đưới cổ bên trái: xấu, bần tiện, trở ngại đường đời
5-LÒng bàn tay phải gần ngón út: quý tử
6-Giữa yết hầu: không tốt, bần tiện
7-Eo bên tay trái: thông minh
8-Nốt ruồi chung quanh ngực: phú quý
9-Ở bụng phía bên mặt: quý nhân phù hộ
10Đưới ngực bên phải gần bụng: làm việc như ý
11-Trên lưng tay phải gần vai: con người rộng rãi
12-Ở cổ giữa hai vai: trí tuệ
13-Phía sau chỗ bả vai tay phải: có nhiều tài vặt
14-Nốt ruồi ở hai khuỷu tay: giàu có, phú quý
15-Nốt ruồi ở dầu khuỷu tay: tai ách
16-Trong hai cánh tay: bị tai nạn bất ngờ
17-Phía trên sau hai bắp vế: phúc đức
18-Ở đỉnh đầu gối: có nhiều tài sản
19-Ở ống chân: bôn ba đau khổ
20-Trên nhũ hoa: có nhiều con cái
21-Giữa nhũ hoa: phúc thọ
22Đưới nhũ hoa: có nhiều tiền của
23-Ngay rốn: phúc lộc, quý tử
24-Nằm ở uy đầu: sống lâu
4/3/2016 1:21:11 PM
Topic:
3000 từ tiếng Anh dễ nhớ

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
3000 TỪ TIẾNG ANH BẰNG THƠ LỤC BÁT

Hello có nghĩa xin chào
Goodbye tạm biệt, thì thào Wishper
Lie nằm, Sleep ngủ, Dream mơ
Thấy cô gái đẹp See girl beautiful
I want tôi muốn, kiss hôn
Lip môi, Eyes mắt ... sướng rồi ... oh yeah!
Long dài, short ngắn, tall cao
Here đây, there đó, which nào, where đâu
Sentence có nghĩa là câu
Lesson bài học, rainbow cầu vồng
Husband là đức ông chồng
Daddy cha bố, please don"t xin đừng
Darling tiếng gọi em cưng
Merry vui thích, cái sừng là horn
Rách rồi xài đỡ chữ torn
To sing là hát, a song một bài
Nói sai sự thật to lie
Go đi, come đến, một vài là some
Đứng stand, look ngó, lie nằm
Five năm, four bốn, hold cầm, play chơi
One life là một cuộc đời
Happy sung sướng, laugh cười, cry kêu
Lover tạm dịch ngừơi yêu
Charming duyên dáng, mỹ miều graceful
Mặt trăng là chữ the moon
World là thế giới, sớm soon, lake hồ
Dao knife, spoon muỗng, cuốc hoe
Đêm night, dark tối, khổng lồ giant
Fund vui, die chết, near gần
Sorry xin lỗi, dull đần, wise khôn
Burry có nghĩa là chôn
Our souls tạm dịch linh hồn chúng ta
Xe hơi du lịch là car
Sir ngài, Lord đức, thưa bà Madam
Thousand là đúng...mười trăm
Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ
Wait there đứng đó đợi chờ
Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu
Trừ ra except, deep sâu
Daughter con gái, bridge cầu, pond ao
Enter tạm dịch đi vào
Thêm for tham dự lẽ nào lại sai
Shoulder cứ dịch là vai
Writer văn sĩ, cái đài radio
A bowl là một cái tô
Chữ tear nước mắt, tomb mồ, miss cô
Máy khâu dùng tạm chữ sew
Kẻ thù dịch đại là foe chẳng lầm
Shelter tạm dịch là hầm
Chữ shout là hét, nói thầm whisper
What time là hỏi mấy giờ
Clear trong, clean sạch, mờ mờ là dim
Gặp ông ta dịch see him
Swim bơi, wade lội, drown chìm chết trôi
Mountain là núi, hill đồi
Valley thung lũng, cây sồi oak tree
Tiền xin đóng học school fee
Yêu tôi dùng chữ love me chẳng lầm
To steal tạm dịch cầm nhầm
Tẩy chay boycott, gia cầm poultry
Cattle gia súc, ong bee
Something to eat chút gì để ăn
Lip môi, tongue lưỡi, teeth răng
Exam thi cử, cái bằng licence...
Lovely có nghĩa dễ thương
Pretty xinh đẹp thường thường so so
Lotto là chơi lô tô
Nấu ăn là cook , wash clothes giặt đồ
Push thì có nghĩa đẩy, xô
Marriage đám cưới, single độc thân
Foot thì có nghĩa bàn chân
Far là xa cách còn gần là near
Spoon có nghĩa cái thìa
Toán trừ subtract, toán chia divide
Dream thì có nghĩa giấc mơ
Month thì là tháng , thời giờ là time
Job thì có nghĩa việc làm
Lady phái nữ, phái nam gentleman
Close friend có nghĩa bạn thân
Leaf là chiếc lá, còn sun mặt trời
Fall down có nghĩa là rơi
Welcome chào đón, mời là invite
Short là ngắn, long là dài
Mũ thì là hat, chiếc hài là shoe
Autumn có nghĩa mùa thu
Summer mùa hạ , cái tù là jail
Duck là vịt , pig là heo
Rich là giàu có , còn nghèo là poor
Crab thi` có nghĩa con cua
Church nhà thờ đó , còn chùa temple
Aunt có nghĩa dì , cô
Chair là cái ghế, cái hồ là pool
Late là muộn , sớm là soon
Hospital bệnh viẹn , school là trường
Dew thì có nghĩa là sương
Happy vui vẻ, chán chường weary
Exam có nghĩa kỳ thi
Nervous nhút nhát, mommy mẹ hiền.
Region có nghĩa là miền,
Interupted gián đoạn còn liền next to.
Coins dùng chỉ những đồng xu,
Còn đồng tiền giấy paper money.
Here chỉ dùng để chỉ tại đây,
A moment một lát còn ngay ringht now,
Brothers-in-law đồng hao.
Farm-work đòng áng, đồng bào Fellow- countryman
Narrow- minded chỉ sự nhỏ nhen,
Open-hended hào phóng còn hèn là mean.
Vẫn còn dùng chữ still,
Kỹ năng là chữ skill khó gì!
Gold là vàng, graphite than chì.
Munia tên gọi chim ri
Kestrel chim cắt có gì khó đâu.
Migrant kite là chú diều hâu
Warbler chim chích, hải âu petrel
Stupid có nghĩa là khờ,
Đảo lên đảo xuống, stir nhiều nhiều.
How many có nghĩa bao nhiêu.
Too much nhiều quá , a few một vài
Right là đúng , wrong là sai
Chess là cờ tướng , đánh bài playing card
Flower có nghĩa là hoa
Hair là mái tóc, da là skin
Buổi sáng thì là morning
King là vua chúa, còn Queen nữ hoàng
Wander có nghĩa lang thang
Màu đỏ là red, màu vàng yellow
Yes là đúng, không là no
Fast là nhanh chóng, slow chậm rì
Sleep là ngủ, go là đi
Weakly ốm yếu healthy mạnh lành
White là trắng, green là xanh
Hard là chăm chỉ , học hành study
Ngọt là sweet, kẹo candy
Butterfly là bướm, bee là con ong
River có nghĩa dòng sông
Wait for có nghĩa ngóng trông đợi chờ
Dirty có nghĩa là dơ
Bánh mì bread, còn bơ butter
Bác sĩ thì là doctor
Y tá là nurse, teacher giáo viên
Mad dùng chỉ những kẻ điên,
Everywhere có nghĩa mọi miền gần xa.
A song chỉ một bài ca.
Ngôi sao dùng chữ star, có liền!
Firstly có nghĩa trước tiên
Silver là bạc , còn tiền money
Biscuit thì là bánh quy
Can là có thể, please vui lòng
Winter có nghĩa mùa đông
Iron là sắt còn đồng copper
Kẻ giết người là killer
Cảnh sát police , lawyer luật sư
Emigrate là di cư
Bưu điện post office, thư từ là mail
Follow có nghĩa đi theo
Shopping mua sắm còn sale bán hàng
Space có nghĩa không gian
Hàng trăm hundred, hàng ngàn thousand
Stupid có nghĩa ngu đần
Thông minh smart, equation phương trình
Television là truyền hình
Băng ghi âm là tape, chương trình program
Hear là nghe watch là xem
Electric là điện còn lamp bóng đèn
Praise có nghĩa ngợi khen
Crowd đông đúc, lấn chen hustle
Capital là thủ đô
City thành phố , local địa phương
Country có nghĩa quê hương
Field là đồng ruộng còn vườn garden
Chốc lát là chữ moment
Fish là con cá , chicken gà tơ
Naive có nghĩa ngây thơ
Poet thi sĩ , great writer văn hào
Tall thì có nghĩa là cao
Short là thấp ngắn, còn chào hello
Uncle là bác, elders cô.
Shy mắc cỡ, coarse là thô.
Come on có nghĩa mời vô,
Go away đuổi cút, còn vồ pounce.
Poem có nghĩa là thơ,
Strong khoẻ mạnh, mệt phờ dog- tiered.
Bầu trời thường gọi sky,
Life là sự sống còn die lìa đời
Shed tears có nghĩa lệ rơi
Fully là đủ, nửa vời by halves
Ở lại dùng chữ stay,
Bỏ đi là leave còn nằm là lie.
Tomorrow có nghĩa ngày mai
Hoa sen lotus, hoa lài jasmine
Madman có nghĩa người điên
Private có nghĩa là riêng của mình
Cảm giác là chữ feeling
Camera máy ảnh hình là photo
Động vật là animal
Big là to lớn , little nhỏ nhoi
Elephant là con voi
Goby cá bống, cá mòi sardine
Mỏng mảnh thì là chữ thin
Cổ là chữ neck, còn chin cái cằm
Visit có nghĩa viếng thăm
Lie down có nghĩa là nằm nghỉ ngơi
Mouse con chuột , bat con dơi
Separate có nghĩa tách rời , chia ra
Gift thì có nghĩa món quà
Guest thì là khách chủ nhà house owner
Bệnh ung thư là cancer
Lối ra exit , enter đi vào
Up lên còn xuống là down
Beside bên cạnh , about khoảng chừng
Stop có nghĩa là ngừng
Ocean là biển , rừng là jungle
Silly là kẻ dại khờ,
Khôn ngoan smart, đù đờ luggish
Hôn là kiss, kiss thật lâu.
Cửa sổ là chữ window
Special đặc biệt normal thường thôi
Lazy... làm biếng quá rồi
Ngồi mà viết tiếp một hồi die soon
Hứng thì cứ việc go on,
Còn không stop ta còn nghỉ ngơi!
Cằm CHIN có BEARD là râu
RAZOR dao cạo, HEAD đầu, da SKIN
THOUSAND thì gọi là nghìn
BILLION là tỷ, LOOK nhìn , rồi THEN
LOVE MONEY quý đồng tiền
Đầu tư INVEST, có quyền RIGHTFUL
WINDY RAIN STORM bão bùng
MID NIGHT bán dạ, anh hùng HERO
COME ON xin cứ nhào vô
NO FEAR hổng sợ, các cô LADIES
Con cò STORKE, FLY bay
Mây CLOUD, AT ở, BLUE SKY xanh trời
OH! MY GOD...! Ối! Trời ơi
MIND YOU. Lưu ý WORD lời nói say
HERE AND THERE, đó cùng đây
TRAVEL du lịch, FULL đầy, SMART khôn
Cô đõn ta dịch ALONE
Anh văn ENGLISH , nổi buồn SORROW
Muốn yêu là WANT TO LOVE
OLDMAN ông lão, bắt đầu BEGIN
EAT ăn, LEARN học, LOOK nhìn
EASY TO FORGET dễ quên
BECAUSE là bỡi ... cho nên , DUMP đần
VIETNAMESE , người nước Nam
NEED TO KNOW... biết nó cần lắm thay
SINCE từ, BEFORE trước, NOW nay
Đèn LAMP, sách BOOK, đêm NIGHT, SIT ngồi
SORRY thương xót, ME tôi
PLEASE DON"T LAUGH đừng cười, làm ơn
FAR Xa, NEAR gọi là gần
WEDDING lễ cưới, DIAMOND kim cương
SO CUTE là quá dễ thương
SHOPPING mua sắm, có sương FOGGY
SKINNY ốm nhách, FAT: phì
FIGHTING: chiến đấu, quá lỳ STUBBORN
COTTON ta dịch bông gòn
A WELL là giếng, đường mòn là TRAIL
POEM có nghĩa làm thơ,
POET Thi Sĩ nên mơ mộng nhiều.
ONEWAY nghĩa nó một chiều,
THE FIELD đồng ruộng, con diều là KITE.
Của tôi có nghĩa là MINE,
TO BITE là cắn, TO FIND kiếm tìm
TO CARVE xắt mỏng, HEART tim,
DRIER máy sấy, đắm chìm TO SINK.
FEELING cảm giác, nghĩ THINK
PRINT có nghĩa là in, DARK mờ
LETTER có nghĩa lá thơ,
TO LIVE là sống, đơn sơ SIMPLE.
CLOCK là cái đồng hồ,
CROWN vương niệm, mã mồ GRAVE.
KING vua, nói nhảm TO RAVE,
BRAVE can đảm, TO PAVE lát đường.
SCHOOL nghĩa nó là trường,
LOLLY là kẹo, còn đường SUGAR.
Station trạm GARE nhà ga
FISH SAUCE nước mắm, TOMATO là cá chua
EVEN huề, WIN thắng, LOSE thua
TURTLE là một con rùa
SHARK là cá mập, CRAB cua, CLAW càng
COMPLETE là được hoàn toàn
FISHING câu cá, DRILL khoan, PUNCTURE dùi
LEPER là một người cùi
CLINIC phòng mạch, sần sùi LUMPY
IN DANGER bị lâm nguy
Giải phầu nhỏ là SUGERY đúng rồi
NO MORE ta dịch là thôi
AGAIN làm nữa, bồi hồi FRETTY
Phô mai ta dịch là CHEESE
CAKE là bánh ngọt, còn mì NOODLE
ORANGE cam, táo APPLE
JACK-FRUIT trái mít, VEGETABLE là rau
CUSTARD-APPLE mãng cầu
PRUNE là trái táo tàu, SOUND âm
LOVELY có nghĩa dễ thương
PRETTY xinh đẹp, thường thường SO SO
LOTTO là chơi lô tô
Nấu ăn là COOK , WASH CLOTHES giặt đồ
PUSH thì có nghĩa đẩy, xô
MARRIAGE đám cưới, SINGLE độc thân
FOOT thì có nghĩa bàn chân
FAR là xa cách, còn gần là NEAR
SPOON có nghĩa cái thìa
Toán trừ SUBTRACT, toán chia DIVIDE
PLOUGH tức là đi cày
WEEK tuần MONTH tháng, WHAT TIME mấy giờ
edited by Administrator on 4/9/2016
4/3/2016 9:04:44 AM
Topic:
Tướng về Đôi tai

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Đôi tai tiết lộ sự phú quý của bạn
Người có dái tai dày là biểu hiện cho sự giàu có. Nếu phụ nữ sở hữu dái tai này sẽ mang lại nhiều vận may cho chồng.
Hình dạng móng tay bộc lộ năng lực của bạn
Cũng như các bộ phận khác trên khuôn mặt, đôi tai tiết lộ rất nhiều điều về bạn. Theo các thầy phong thủy phương Đông, tai đại diện cho sức khỏe và sự may mắn cho trẻ 1-14 tuổi. Tai trái đại diện cho tuổi 0-7, còn tai phải từ 8 đến 14 tuổi.
Tai cũng là bộ phận duy nhất trên khuôn mặt vẫn tiếp tục phát triển trong suốt cuộc đời và đây là lý do tại sao một số người già có đôi tai rất to. Vì vậy khi xem bài này, cần chú ý đến tuổi tác của người đó.
1. Tai lớn, tai nhỏ và ý nghĩa
- Người có tai nhỏ là người thận trọng, chu đáo, sống nội tâm và ít tham vọng.
- Đôi tai trung bình thì đường đời cũng trung bình, tính cách, phản ứng trước rủi ro và sợ hãi cũng bình thường, trong khi những người có kích thước tai đáng chú ý khác thì thường có nhiều thách thức và thăng trầm trong cuộc sống.
- Ở Trung Quốc, đôi tai to được coi là dấu hiệu đầy sức sống và tuổi thọ. Người mang đôi tai to là người vui vẻ và tràn đầy năng lượng. Họ luôn sẵn sàng chấp nhận rủi ro, không như người tai nhỏ sẽ lo sợ. Nếu bạn sở hữu đôi tai to, chắc chắn bạn là người biết lắng nghe.
2. Hình dạng và vị trí
- Tai tròn là người luôn di chuyển, đáng tin, tích cực, hòa đồng và giàu trí tưởng tượng.
- Tai vuông các cạnh, đỉnh cũng như thùy vuông là người khôn ngoan, nhạy bén, sâu sắc, có thể làm nhiều điều cùng lúc.
- Nếu như đầu tai nhọn (như thần Hephaestus) được cho người bí ẩn, bí mật, nói chuyện có duyên. Thường phải mất một thời gian dài bạn mới nhận ra được người này rất tốt.
- Tai vểnh hẳn ra nghĩa là người độc lập và không thể bảo được họ làm theo bạn. Những người này bướng bỉnh, không chấp nhận lời khuyên của người khác. Tuy vậy, đôi tai này của họ là biểu hiệu của cái máy hút tiền.
- Những người có đôi tai cao (tai cao hơn đầu mũi và hai đầu lông mày) là người tiếp nhận thông tin rất nhanh. Ngược lại người có đôi tai thấp (thấp hơn đầu lông mày và chóp mũi thì giảm khả năng tiếp nhận thông tin.
- Tai dài (dái tai kéo dài thấp hơn đầu mũi trong khi đỉnh tai thì cao hơn lông mày) đây là dấu hiệu của thiên tài.
- Đôi tai thường hơi nghiêng (đỉnh tai nghiêng về sau hơn phần dái tai) và nếu góc nghiêng này càng lớn thì người này rất cứng nhắc và có xu hướng kiểm soát người khác.
3. Vành tai
- Những người có vành tai tròn (vành ngoài cùng) là người thích sự kích thích tinh thần. Họ tràn đầy năng lượng và quản lý tốt thời gian.
- Người với vành tai mỏng là kiểu bốc đồng, nhiệt tình và hướng ngoại.
- Nếu vành tai cực kỳ mỏng thì đó đúng là kiểu người luôn ôm mọi việc của thiên hạ vào mình.
4. Dái tai
Phúc lộc trong cuộc sống của mỗi người thường được thể hiện trên phần dái tai của người đó. Những người không có dái tai thường không được hưởng phúc lộc, phải dựa hoàn toàn vào sức lực cũng như sự phấn đấu của mình để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Ngược lại, những người có dái tai dày được hưởng nhiều phúc lộc, tính tình rất trung hậu, luôn muốn hoàn thiện bản thân. Họ cũng được nhiều người giúp đỡ trong cuộc sống và sự nghiệp.
- Dái tai là phần thịt dưới cùng của tai. Dái tai có thể bè hoặc cong. Với dái tai bè ra thì là người tự do và rộng lượng. Dái tai cong thì là người trái ngược với hai phẩm chất trên.
- Dái tai dài chỉ độ sống lâu và khỏe mạnh. Đó cũng là biểu hiện của người có tâm hồn nhạy cảm và óc phán xét. Những người có dái tai dày có nhiều bạn bè và đây cũng là chỉ số của sự chăm chỉ và giàu có. Phụ nữ mà có dái tai này sẽ mang lại nhiều vận may cho chồng.
- Đức Phật có dái tai rất to và đây là biểu hiện của lòng nhân hậu, tâm linh và địa vị cao. Nếu bạn có dái tai đã dày lại lớn, sẽ cực kỳ may mắn. Bạn luôn biết tận hưởng cuộc sống và đường đời với bạn lúc nào cũng trơn tru. Khi bạn gặp rắc rối sẽ luôn có quý nhân phù trợ.
Bảo Nhiên (Theo Chinesehoroscop
http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/to-am/doi-tai-tiet-lo-su-phu-quy-cua-ban-3380370.html
3/26/2016 12:01:57 AM
Topic:
Cháu xin nhờ bác Tân xem giúp QCTM

Phanbo
Phanbo
Posts: 7
Phanbo wrote:
Cháu chào Bác Tân, mong bác xem giúp cháu quỷ cốc toán mệnh. Cháu xin phép đưa ra 1 số thông tin:
- Giới tính: nữ, ngày sinh: 16/4/1992DL, giờ Dậu.
- Nơi sinh: miền Băc Việt Nam, cháu tốt nghiệp đại học và hiện đang làm kế toán.
Mong bác xem giúp cháu tình duyên, và tiền tài ạ.
Cháu xin cám ơn bác rất nhiều ạ


NHẠN QUÁ HÀM DƯƠNG Cách
Vân nhất trùng hề thủy nhất trùng
Bồng lai tiên cảnh tại kỳ trung
Nhạn hành lịch lịch ly thu phố
Uyên lữ phiên phiên trục hiểu phong
Nguyệt đáo canh lan nhân dĩ tán
Vận hành tận xứ lộ vô thông
Quân gia vấn ngã tiền trình sự
Biệt hữu hoa khai mãn thụ hồng


Dịch: NHẠN BAY QUA HÀM DƯƠNG
Mây ở tầng trên nước tầng dưới
Bồng lai tiên cảnh ở bên trong
Hàng nhạn lưa thưa lìa bãi vắng
Đôi uyên phơi phới đuổi gió sớm
Trăng đến canh khuya người đã tan đi
Mây đến chốn cùng không có đường thông
Nhà ngươi hỏi thăm ta về việc tương lai
Riêng có hoa nở đầy cây đỏ chói


CƠ NGHIỆP (Cơ nghiệp)
Bình sinh ái tác thành nhân sự
Phí tận công phu nhạ thị phi
Duy hữu âm công tương bảo hựu
Thanh tùng thúy trúc khả tương ty
Dịch:
Bình sinh thích tác thành cho người khác
Uổng phí công phu lại còn mang tiếng thị phi
Nhờ có âm đức cùng che chở
Tùng xanh trúc biếc có thể nương tựa nhau


HUYNH ĐỆ (Anh em)
Kinh khởi quần hồng phi tứ tán
Phong xuy cô nhạn quá Hàm dương
Tiêu tương phong vũ thê lương hậu
Hoành địch nhất thanh không đoạn trường
Dịch:
Bầy (chim) hồng kinh hải bay tứ tán
Gió đưa (con) nhạn lẻ loi tới Hàm dương
(Bến) Tiêu tương thê thảm sau mưa gió
Một tiếng sáo vang lên luống đoạn trường


HÀNH TÀNG (Sự nghiệp)
Gian lịch vãng niên thừa hổ mã
Tá tha thế lực tác công danh
Khốn thời du lạc thu giang bạn
Xa mã tang du vạn lý trình
Dịch:
Trải hết gian nan sau tuổi trung niên gặp năm Dần năm Ngọ
Mượn thế người khác để lập công danh
Lúc khốn vui chơi trên bờ sông mùa thu
Đến tuổi già xe ngựa băng ngàn dặm


HÔN NHÂN (Vợ chồng)
Kham thán uyên ương trì nội hý
Thu lai độc tự lập sa đinh
Duy hữu điểu thước bạn tri kỷ
Nhất xuyên lư vĩ tối thanh thanh
Dịch:
Tiếc thay cặp uyên ương giỡn trong ao
Thu về đứng trơ một mình trên bãi cát
Chỉ còn lại (chim) điểu thước là bạn tri kỷ
Một dòng lau sậy rất xanh tươi


TỬ TỨC (Con cái)
Mai nhị tảo khai tam tứ đóa
Tuyết trung linh lạc nhất chi hồng
Tây tường tà xuất hảo hoa quả
Hội ức đông hoàng tạo hóa công
Dịch:
Nhị mai mới nở đôi ba đóa
Trong tuyết rung rinh một cành hồng
Bên tường tây lấp ló hoa cùng quả
Nhớ tới Đông Hoàng với Hóa Công


THU THÀNH (Mãn cuộc)
Xà hóa vi long nhân sự hảo
Bất thành công xứ dã thành công
Chỉ nhân thất khước đương thời nguyện
Thôi chấm phi y thính vãng chung
Dịch:
Từ năm Tỵ đến năm Ngọ mọi việc đều tốt
Nơi tưởng không thành công lại thành công
Cũng bởi lời nguyền xưa đành lỡ dở
Trùm chăn đẩy gối tối nghe chuông

Mọi sao chép vui lòng ghi rõ nguồn
Theo sách Quỷ Cốc Toán Mệnh - Bản quyền thuộc về tác giả: Dương Đình Lê Thứ Chi


Trên cháu cop nhầm sang giờ Hợi, là giờ Dậu mới đúng ạ


Giờ Kỷ Dậu: DU NGƯ ĐẮC LỘ
Dịch: Cá bơi gặp đường
Giải: Tính tình hoạt bát hành sự nhất vô trở ngại
Dịch: Tính tình hoạt bát làm việc không chút trở ngại
3/26/2016 12:00:22 AM
Topic:
Cháu xin nhờ bác Tân xem giúp QCTM

Phanbo
Phanbo
Posts: 7
Cháu chào Bác Tân, mong bác xem giúp cháu quỷ cốc toán mệnh. Cháu xin phép đưa ra 1 số thông tin:
- Giới tính: nữ, ngày sinh: 16/4/1992DL, giờ Dậu.
- Nơi sinh: miền Băc Việt Nam, cháu tốt nghiệp đại học và hiện đang làm kế toán.
Mong bác xem giúp cháu tình duyên, và tiền tài ạ.
Cháu xin cám ơn bác rất nhiều ạ






Giờ Kỷ Hợi: PHÙ BÌNH THỦY KHOÁT
Dịch: Bèo trôi mặt nước bao la
Giải: Hành tung vô định đáo xứ hoạch lợi
Dịch: Gót chân vô định đến đâu cũng được lợi


NHẠN QUÁ HÀM DƯƠNG Cách
Vân nhất trùng hề thủy nhất trùng
Bồng lai tiên cảnh tại kỳ trung
Nhạn hành lịch lịch ly thu phố
Uyên lữ phiên phiên trục hiểu phong
Nguyệt đáo canh lan nhân dĩ tán
Vận hành tận xứ lộ vô thông
Quân gia vấn ngã tiền trình sự
Biệt hữu hoa khai mãn thụ hồng


Dịch: NHẠN BAY QUA HÀM DƯƠNG
Mây ở tầng trên nước tầng dưới
Bồng lai tiên cảnh ở bên trong
Hàng nhạn lưa thưa lìa bãi vắng
Đôi uyên phơi phới đuổi gió sớm
Trăng đến canh khuya người đã tan đi
Mây đến chốn cùng không có đường thông
Nhà ngươi hỏi thăm ta về việc tương lai
Riêng có hoa nở đầy cây đỏ chói


CƠ NGHIỆP (Cơ nghiệp)
Bình sinh ái tác thành nhân sự
Phí tận công phu nhạ thị phi
Duy hữu âm công tương bảo hựu
Thanh tùng thúy trúc khả tương ty
Dịch:
Bình sinh thích tác thành cho người khác
Uổng phí công phu lại còn mang tiếng thị phi
Nhờ có âm đức cùng che chở
Tùng xanh trúc biếc có thể nương tựa nhau


HUYNH ĐỆ (Anh em)
Kinh khởi quần hồng phi tứ tán
Phong xuy cô nhạn quá Hàm dương
Tiêu tương phong vũ thê lương hậu
Hoành địch nhất thanh không đoạn trường
Dịch:
Bầy (chim) hồng kinh hải bay tứ tán
Gió đưa (con) nhạn lẻ loi tới Hàm dương
(Bến) Tiêu tương thê thảm sau mưa gió
Một tiếng sáo vang lên luống đoạn trường


HÀNH TÀNG (Sự nghiệp)
Gian lịch vãng niên thừa hổ mã
Tá tha thế lực tác công danh
Khốn thời du lạc thu giang bạn
Xa mã tang du vạn lý trình
Dịch:
Trải hết gian nan sau tuổi trung niên gặp năm Dần năm Ngọ
Mượn thế người khác để lập công danh
Lúc khốn vui chơi trên bờ sông mùa thu
Đến tuổi già xe ngựa băng ngàn dặm


HÔN NHÂN (Vợ chồng)
Kham thán uyên ương trì nội hý
Thu lai độc tự lập sa đinh
Duy hữu điểu thước bạn tri kỷ
Nhất xuyên lư vĩ tối thanh thanh
Dịch:
Tiếc thay cặp uyên ương giỡn trong ao
Thu về đứng trơ một mình trên bãi cát
Chỉ còn lại (chim) điểu thước là bạn tri kỷ
Một dòng lau sậy rất xanh tươi


TỬ TỨC (Con cái)
Mai nhị tảo khai tam tứ đóa
Tuyết trung linh lạc nhất chi hồng
Tây tường tà xuất hảo hoa quả
Hội ức đông hoàng tạo hóa công
Dịch:
Nhị mai mới nở đôi ba đóa
Trong tuyết rung rinh một cành hồng
Bên tường tây lấp ló hoa cùng quả
Nhớ tới Đông Hoàng với Hóa Công


THU THÀNH (Mãn cuộc)
Xà hóa vi long nhân sự hảo
Bất thành công xứ dã thành công
Chỉ nhân thất khước đương thời nguyện
Thôi chấm phi y thính vãng chung
Dịch:
Từ năm Tỵ đến năm Ngọ mọi việc đều tốt
Nơi tưởng không thành công lại thành công
Cũng bởi lời nguyền xưa đành lỡ dở
Trùm chăn đẩy gối tối nghe chuông

Mọi sao chép vui lòng ghi rõ nguồn
Theo sách Quỷ Cốc Toán Mệnh - Bản quyền thuộc về tác giả: Dương Đình Lê Thứ Chi
3/22/2016 10:55:09 AM
Topic:
Có bao nhiêu trang mạng có Quỷ Cốc Toán Mệnh

dinhvantan
dinhvantan
Posts: 788
Có bao nhiêu trang Mạng có "Quỷ Cốc Toán Mệnh".




1/ huyenkhonglyso.com
2/ thantienvietnam.com
3/ tuvisomenh.com
(ở trang chính thì không có nhưng vào "tra cứu" sẽ có . Từng phân Cơ nghiệp, Hành tàng xếp đặt rất hay, tra cứu có liển) .
4/ vansu.net (vạn sự)
5/ xemtuong.net
6/ hatvan.net
7/ tuvilyso.org


Trang nầy là chính thức của Tác giả,
Sách Quỷ Cốc Toán Mệnh và Quỷ Cốc Toán Mệnh toàn bản.
có đăng ký bản quyền, có số ISBN ỡ Mỹ, có lưu trử ở 3 Thư Viện Saigon, Hà Nội và Huế .

Trang Nhà » Tin nhắn cuối